Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tuần 5, Tiết 18+19+20, Đọc văn: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

pptx 24 trang quynhnhu 02/09/2025 1760
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tuần 5, Tiết 18+19+20, Đọc văn: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pptxbai_giang_ngu_van_lop_11_tuan_5_tiet_181920_doc_van_van_te_n.pptx

Nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tuần 5, Tiết 18+19+20, Đọc văn: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

  1. Đọc văn Tuần 5- Tiết: 18-19-20 VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC Nguyễn Đình Chiểu Vĩnh Long, tháng 10 năm 2021
  2. PHẦN II: TÁC PHẨM I. Tìm hiểu chung: 1. Thể loại “Văn tế” - Văn tế là một loại văn thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất. - Văn tế được viết theo nhiều thể: văn xuôi, thơ lục bát, song thất lục bát, phú. - Giọng điệu lâm li, thống thiết, sử dụng nhiều thán từ, những từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh. - Âm hưởng chung của bài văn tế là bi thương nhưng sắc thái biểu cảm ở mỗi bài có thể khác nhau.
  3. 2. Tác phẩm: a. Hoàn cảnh sáng tác: Đêm 16/12/1861 nghĩa quân tấn công đồn Cần Giuộc, một số nghĩa sĩ đã hi sinh, theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế này để tế những người nghĩa sĩ ấy. b. Bố cục: 4 phần - Lung khởi (2 câu đầu): Khái quát bối cảnh thời đại và ý nghĩa của cái chết bất tử - Thích thực: ( Câu 3 15): Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ. - Ai vãn: (16 27): Tiếng khóc bi tráng. - Kết (Còn lại): Ca ngợi linh hồn bất diệt của các nghĩa sĩ.
  4. II. Đọc – hiểu văn bản: 1. Lung khởi: Khái quát bối cảnh thời đại và ý nghĩa của cái chết bất tử (câu 1;2) - Mở đầu là tiếng nấc đau thương cho thế nước hiểm nghèo “hỡi ôi!”- tiếng khóc than lớn, có sức vọng vang xa. - “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ”: + Nêu lên tình thế căng thẳng của đất nước bị Pháp xâm lược qua sự đối lập gay gắt, quyết liệt -> Biến cố chính trị lớn lao của thời cuộc. + Đối lập:“Súng giặc”>< “lòng dân”: Đây là cuộc chiến không cân sức giữa ta và kẻ thù -> lòng yêu nước của nhân dân ta.
  5. - “Mười năm như mõ”: +Mười năm công vỡ ruộng- chưa ắt còn -> không ai biết đến. + Một trận nghĩa đánh Tây- tuy mất – tiếng vang như mõ -> sống mãi Nghệ thuật đối: Người nông dân hiểu được ý nghĩa của hành động, việc làm và tự nguyện đánh Pháp -> tấm lòng yêu nước, ý nghĩa bất tử của cái chết vì dân, vì nước.  Tác giả dựng lên khung cảnh bão táp của xã hội VN những năm 60 của thế kỉ XIX: cuộc đụng độ giữa thế lực xâm lược là thực dân Pháp và ý chí bất khuất bảo vệ Tổ quốc của nhân dân VN.
  6. 2. Thích thực: Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ (câu 3-15). a. Hoàn cảnh xuất thân: (Câu 3-5) - “Cui cút nghèo khó”: cuộc đời lam lũ, vất vả, tủi cực và đáng thương “cui cút”; vòng luẩn quẩn không lối thoát của người nông dân trước CMT8 “toan lo nghèo khó”. - “Chưa quen từng ngó”: + Đã quen: ruộng, trâu, cuốc, cày, bừa, cấy-> cuộc sống gắn liền với nền nông nghiệp lạc hậu + Chưa quen: cung ngựa, trường nhung, tập khiên, tập súng, -> chưa hề biết, chưa từng nghĩ đến chiến tranh. Nghệ thuật đối+ phép liệt kê NĐC đã khắc họa hình ảnh những người nông dân lam lũ, chất phác, an phận với đồng ruộng yên bình không quen với chiến tranh.
  7. b. Phẩm chất của người nông dân nghĩa sĩ (Câu 6-9): - “Tiếng phong hạc ghét cỏ”: + Khi hay tin giặc đến: họ lo lắng, phập phồng “tiếng phong hạc”(điển cố), trông chờ vào triều đình“trông tin quan như trời hạn trông mưa”(so sánh) – Họ thất vọng vì triều đình không đoái hoài. + Từ ngữ giàu sức biểu cảm“mùi tinh chiên”, “thói mọi”: kiểu căm thù giặc mang tâm lí nông dân. Họ chưa biết kẻ thù là ai, chỉ mơ hồ nhận ra đó là một lũ người xấu xa nên họ ghét - “Bữa thấy cắn cổ”: câu văn ẩn chủ ngữ, khi thấy kẻ thù xuất hiện lòng căm thù giặc dâng lên cao độ muốn “ăn gan, cắn cổ”- sử dụng động từ mạnh-> Từ tâm lí ghét chuyển sang lòng căm thù sâu sắc, muốn giết giặc. Người nông dân có những chuyển biến sâu sắc về tình cảm
  8. - “Một mối bán chó”: + Ý thức được bản chất gian xảo của kẻ thù “treo dê bán chó”. + Điển cố“một mối xa thư đồ sộ”- Ý thức được độc lập, chủ quyền của tổ quốc + Điển tích “chém rắn đuổi hươu”+ từ ngữ khẳng định “Há để - đâu dung”- trách nhiệm của một công dân phải giữ gìn chủ quyền đất nước. Nhận thức sâu sắc, toàn diện về độc lập, chủ quyền dân tộc của người nông dân.
  9. - “Nào đợi ai .bộ hổ”: Họ tự nguyện đánh giặc “nào đợi ai đòi ai bắt”, “ra sức đoạn kình”, “chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi” Giọng điệu hào hùng + hình ảnh mang tính biểu trưng- Người nông dân quyết tâm đánh giặc một cách tự nguyện dù có khó khăn, gian khổ “đoạn kình”, “bộ hổ”.  Từ tình cảm mãnh liệt, nhận thức sâu sắc, tất cả biến thành hành động: người nông dân tự nguyện đứng lên vì nghĩa đánh giặc. Hình ảnh người nông dân đã chuyển từ bóng tối ra ánh sáng, từ nhỏ bé đến lớn lao, từ bình thường đến phi thường. Họ hiện ra trong vóc dáng những người nghĩa sĩ.
  10. c. Tinh thần chiến đấu (câu 10-15) * Điều kiện chiến đấu: - “Vốn chẳng phải bày bố” + Họ đánh giặc vì lòng yêu nước vì “mến nghĩa”, đó là vũ khí sắc bén nhất. + Họ hăng hái khẩn trương: không cần tập võ nghệ, binh pháp, quân trang, vũ khí. - “Ngoài cật hai nọ” + Trang bị: manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi chiến đấu bằng vũ khí thô sơ, tận dụng từ trong sinh hoạt gia đình và sản xuất. + Không có: bao tấu, bầu ngòi, dao tu, nón gõ, chưa tập trận, không biết binh thư, -> không cần chuẩn bị  Nghệ thuật đối+ phép liệt kê- khắc họa đội quân áo vải ra trận với lòng yêu nước, thiếu thốn về vật chất, trang bị vũ khí thô sơ.
  11. * Khí thế chiến đấu: “Chi nhọc súng nổ”. - Tinh thần của họ lại bừng bừng lên khí thế và sự nhiệt huyết xông tới chiến đấu với kẻ thù: “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”, -> coi thường sự hiểm nguy, cái chết. - Hành động hết sức mạnh mẽ, quyết liệt: “kẻ đâm ngang, người chém ngược” -> Làm giặc phải khiếp sợ.
  12. - Nghệ thuật đối:”trống kì”- “trống giục, “lướt tới”- “xông vào”, ‘đạn nhỏ”- “đạn to”, “đâm ngang”- “chém ngược”, “manh áo vải, ngọn tầm vông”- “đạn nhỏ, đạn to, tàu thiết, tàu đồng” Dựng lại khung cảnh quyết liệt giữa ta và địch.  Nhịp thơ ngắn, khẩn trương, dồn dập + những động từ mạnh (đâm, chém, xô, xông, đạp )+ giọng văn hào sảng, ngợi ca Làm nổi bật khí thế tấn công như vũ bão, tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời của nghĩa quân đêm công đồn và lòng yêu mến, kính phục đối với họ.
  13. • Sơ kết: - Bằng những chi tiết chân thực, sinh động, gợi cảm + ngôn ngữ giản dị nhưng không kém phần trang trọng, giọng văn hăm hở đầy hào khí + nghệ thuật so sánh, đối lập đã làm toát lên vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ đánh Tây. - Lần đầu tiên trong lịch sử văn học, người nông dân đã trở thành hình tượng trung tâm mang tính sử thi, bi tráng. Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên một bức tượng đài nghệ thuật bất tử về người anh hùng nông dân nghĩa sĩ.
  14. 3. Ai vãn: Tiếng khóc bi tráng (câu 16-27). - “Những lăm lòng treo mộ”: + Sống vô danh và ngã xuống trong tư thế anh hùng vì nghĩa lớn, vì nước quên thân “xác phàm vội bỏ”, “nào đợi gươm hùm treo mộ”. + Chết là sự trở về “âm phủ ấy chữ quy” -> coi thường cái chết “nhẹ tựa lông hồng”
  15. - “Đoái sông lụy nhỏ”: + Xót thương nghĩa sĩ “tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”-> người nghĩa sĩ hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở. + Xót thương cho những người thân: mẹ già, vợ trẻ, con thơ. + Cả Cần Giuộc nhuộm màu tang tóc, thê lương “Đoái sông Cần Giuộc, sầu giăng”, “chợ Trường Bình”. Hình ảnh chọn lọc, giàu sức biểu trưng- niềm tiếc thương vô hạn trước sự hi sinh của các nghĩa sĩ.
  16. - “Tấc đất ngọn ngã gió”: âm điệu phẫn uất, căm hờn, vừa tố cáo kẻ thù vừa cảm phục, tiếc hận cho những người “dân ấp, dân lân” dám đứng lên bảo vệ từng mảnh đất quê hương. - “Sống làm chi rất khổ”: + Sống – phải hiên ngang bất khuất - liệt kê:“sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc”, “ở với lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì”-> nghe càng thêm hổ. + Chết – phải hào hùng ”- so sánh:“thác mà đặng câu địch khái”, “hơn còn mà chịu chữ đầu Tây + Cấu trúc cú pháp: sống làm chi thấy lại thêm/ nghe càng thêm ; Thà hơn Thể hiện quan niệm sống- chết, vinh- nhục. Cảm phục chân lí sống cao đẹp.
  17. - “Chùa Tông Thạnh ngõ”: + Họ mất đi để lại tấm gương sáng cho muôn đời “tấm lòng son” + Để lại sự thương xót của người mẹ mất con, người vợ mất chồng “đau đớn bấy”, “não nùng thay”  Tiếng khóc thương không của riêng tác giả mà của cả quê hương, của nhân dân, đất nước dành cho người nghĩa sĩ. Nó không chỉ gợi nỗi đau mà còn khích lệ lòng căm thù và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ - Tiếng khóc lớn có tính chất sử thi, có tầm vóc thời đại.
  18. 4. Kết: Ca ngợi sự bất tử của các nghĩa sĩ (còn lại). - “Một trận con đỏ”: nghệ thuật đối- từ nỗi đau cá nhân thành nỗi đau dân tộc, câu văn là lời kêu gọi cứu nước. - “Thác mà.. cũng mộ”: Họ hi sinh để đổi lấy cuộc sống thanh bình cho đất nước, danh thơm muôn đời. - “ Sống đánh giặc đánh giặc”: lời thề quyết tử, ý chí diệt thù. - “Nước mắt vương thổ” + Ca ngợi công đức của những người đã ngã xuống. + Động viên, cổ vũ những người còn sống tiếp bước cha anh diệt kẻ thù. Lời khấn nguyện, một nén tâm hương thắp cho người nghĩa sĩ Cần Giuộc nói riêng và cho những nghĩa sĩ Nam Bộ nói chung.