Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tiết 61+62: Ôn tập (Phần Đọc hiểu)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tiết 61+62: Ôn tập (Phần Đọc hiểu)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_lop_11_tiet_6162_on_tap_phan_doc_hieu.pptx
Nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tiết 61+62: Ôn tập (Phần Đọc hiểu)
- TIẾT 61, 62 (PHẦN ĐỌC HIỂU)
- MỤC TIÊU BÀI HỌC
- 1. Nêu tên và cách nhận diện các phương thức biểu đạt? 2. Nêu tên và tác dụng của các biện pháp tu từ?
- 3. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề xã hội được gợi lên từ văn bản đọc hiểu. (?) Văn nghị luận xã hội chia thành mấy dạng? (?) Nhắc lại dàn ý của từng dạng?
- Các bước viết đoạn văn nghị luận xã hội Để viết đoạn văn thành công, cần chú ý tuân thủ các bước: (4 bước) - Bước 1: Xác định yêu cầu của đề: Căn cứ vào yêu cầu của đề, xác định rõ nội dung cần trình bày trong đoạn là gì? (Nội dung đó sẽ được “gói” trong câu chủ đề. Và cũng là định hướng để viết các câu còn lại). - Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn: Căn cứ yêu cầu của đề, xác định rõ chủ đề cần bàn luận của đoạn văn là gì? Chủ đề cần được giới thiệu trực tiếp, ngắn gọn ở phần mở đoạn (viết bằng 1-2 câu văn ngắn phải nêu được chủ đề của đoạn gồm vấn đề cần nghị luận và quan điểm của người viết: đồng tình, phản đối hay có ý kiến riêng nào đó; giữ và bảo vệ quan điểm đã chọn đến hết đoạn).
- Các bước viết đoạn văn nghị luận xã hội Để viết đoạn văn thành công, cần chú ý tuân thủ các bước: - Bước 1: Xác định yêu cầu của đề: - Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn: - Bước 3: Tìm ý cho đoạn (Triển khai ý) Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiến thức đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết. Nếu bỏ qua thao tác này, đoạn văn dễ rơi vào tình trạng lủng củng, quẩn ý. VỀ NỘI DUNG: Dù dài hay ngắn thì đoạn văn cũng phải đầy đủ các ý chính. Cụ thể: + Câu mở đoạn: có tác dụng dẫn dắt vấn đề. Các em nên viết đoạn văn theo kiểu diễn dịch, câu chốt nằm ở đầu đoạn, các câu sau triển khai cho câu chủ đề. Đoạn văn nên có 1 câu kết, nêu ý nghĩa, rút ra bài học, hoặc cảm xúc, quan điểm cá nhân về vấn đề đang bàn luận. + Đoạn văn nghị luận về tư tưởng đạo lí cần có các ý: Giải thích (Là gì? Như thế nào? Biểu hiện cụ thể?), Phân tích, chứng minh (tại sao nói như thế?), bình luận, mở rộng vấn đề, bác bỏ (phê phán) những biểu hiện sai lệch, nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động. + Đoạn văn nghị luận về hiện tượng đời sống cần có các ý: Nêu hiện tượng (đó là hiện tượng gì? biểu hiện? mức độ?). Phân tích tác dụng/ tác hại của hiện tượng trên, bàn luận về nguyên nhân, giải pháp. Nêu bài học sâu sắc với bản thân. Học sinh cần có cách viết linh hoạt theo yêu cầu của đề bài, tránh làm bài máy móc hoặc chung chung. - Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn: Trên cơ sở các ý vừa tìm, viết thành đoạn văn. Căn cứ vào yêu cầu về kiểu diễn đạt để xác định vị trí câu chủ đề và cách lập luận trong đoạn văn. Ngoài ra còn đảm bảo các yêu cầu về ngữ pháp (nếu có).
- Các dạng bài nghị luận xã hội trong đề thi - Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí* - Nghị luận về một hiện tượng, đời sống* - Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ một văn bản văn học (đề gợi ý hoặc tự rút ra vấn đề) * Tuy nhiên, trong thực tế, có những đề văn nghị luận không hẳn thuộc về một kiểu nào. Một tư tưởng, đạo lí bất kì nào đó bao giờ cũng được thể hiện soi chiếu sinh động trong thực tiễn đời sống. Ngược lại, bản thân một hiện tượng đời sống đã chứa đựng một vấn đề nào đó của tư tưởng, đạo lí. Vì thế, một bài văn nghị luận xã hội chỉ có sức thuyết phục khi gắn với thực tiễn sinh động của đời sống. Mặt khác, biết suy nghiệm, khái quát những vấn đề tư tưởng, đạo lí hiện tượng đời sống sẽ giúp đoạn văn sâu sắc hơn.
- DÀN Ý ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG Một hiện tượng phổ biến: - Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận MỞ ĐOẠN - Trích dẫn (nếu đề nêu nhận định hoặc đoạn tin...) - Giải thích hiện tượng đời sống cần nghị luận - Nêu thực trạng / biểu hiện - Nêu nguyên nhân THÂN ĐOẠN - Nêu kết quả / hậu quả - Đề xuất giải pháp phát huy, duy trì / loại bỏ khỏi xã hội. - Khái quát lại vấn đề cần nghị luận KẾT ĐOẠN - Hành động của bản thân.
- DÀN Ý ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ - Giới thiệu vấn đề MỞ ĐOẠN - Nêu luận đề (vấn đề nghị luận); hoặc trích dẫn ý kiến, câu nói (nêu ở đề - nếu có) - Giải thích: khái niệm, từ khóa, - Đánh giá vấn đề (đúng / sai, tích cực, tiêu cực ). - Phân tích, chứng minh vấn đề nghị luận (kết hợp lí lẽ, phân tích dẫn chứng, chú ý tấm gương tiêu biểu...). THÂN ĐOẠN - Bàn luận mở rộng: + Phản đề (lật trái vấn đề). + Liên hệ, mở rộng, nâng cao vấn đề (nếu có) - Khái quát lại vấn đề cần nghị luận. - Bài học nhận thức và hành động của bản thân. KẾT ĐOẠN
- ĐỀ 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Phải thừa nhận một thực tế là, nếu cuộc sống xung quanh ta vận động và phát triển càng nhanh, chúng ta càng dễ bị cuốn theo vòng xoáy tốc độ của nó, và ta càng khó có điều kiện để rèn luyện tính kiên nhẫn. Trong cuộc sống thường nhật, chắc chắn có những lúc ta phải chịu đựng sự chậm trễ khách quan, ngoài ý muốn như phải xếp hàng đợi đến lượt mình, bị kẹt hàng giờ liền trong dòng xe cộ đông đúc ồn ào đầy khói bụi, hay phải tuân theo hệ thống hướng dẫn tự động Đó thật sự là những vấn đề cần được xã hội quan tâm cải thiện. Nhưng hãy suy ngẫm mà xem, chờ đợi như vậy đã là gì so với những thử thách khắc nghiệt khác của cuộc sống: bệnh tật, mâu thuẫn trong các mối quan hệ, khủng hoảng trong công việc, các vấn đề phức tạp rắc rối trong đời sống tình cảm, gia đình Không kiên nhẫn cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang tự gây khó khăn cho chính bản thân, chính cuộc sống của mình. Để có thể đạt được sự thanh thản thật sự trong tâm hồn, để có đủ sức mạnh và niềm tin đương đầu với mọi khó khăn thử thách, và quan trọng hơn hết là để nuôi dưỡng tình yêu và sự sáng suốt, ta nhất định phải rèn luyện tính kiên nhẫn! (Trích Sức mạnh của lòng kiên nhẫn - M.J. Ryan, NXB trẻ, 6/2016) Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận Câu 2. Theo tác giả những biểu hiện nào trong cuộc sống thể hiện tính kiên nhẫn được nhắc đến trong văn bản? Câu 3. Nêu hiệu quả của biệp pháp điệp từ được sử dụng trong câu văn: “Để có thể đạt được sự thanh thản thật sự trong tâm hồn, để có đủ sức mạnh và niềm tin đương đầu với mọi khó khăn thử thách, và quan trọng hơn hết là để nuôi dưỡng tình yêu và sự sáng suốt, ta nhất định phải rèn luyện tính kiên nhẫn!”. - Nhấn mạnh vai trò của việc rèn luyện tính kiên nhẫn - Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng cho lời văn. Câu 4. Theo anh/chị thông điệp nào tác giả muốn gửi gắm qua đoạn trích trên. - Kiên nhẫn là cách ứng xử duy nhất vì việc gì nhanh, vội dễ dấn đến thất bại. Việc gì cũng cần có quá trình, có nền tảng, tốc độ phải đi với sự bền vững - Kiên nhẫn không đồng nghĩa với chậm chạp, ngại thay đổi Câu 5. Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về vai trò của tính kiên nhẫn trong cuộc sống.
- Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về vai trò của tính kiên nhẫn trong cuộc sống. Yêu cầu: - Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ (có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân-hợp, song hành hoặc móc xích.) - Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Vai trò của tính kiên nhẫn trong cuộc sống. - Triển khai vấn đề nghị luận: Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ vai trò của tính kiên nhẫn trong cuộc sống. Gợi ý: * Giải thích: Kiên nhẫn là sự chịu đựng nhẫn lại trước mọi hoàn cảnh khó khăn, thử thách * Bàn luận (phân tích, chứng minh): - Kiên nhẫn có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người trong cuộc sống: + Người kiên nhẫn là những người có ý chí, nghị lực để theo đuổi mục tiêu, không lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách + Người kiên nhẫn sẽ dễ thành công trong cuộc sống, bởi kiên nhẫn giúp cho mỗi người khẳng định được năng lực của bản trước mọi hoàn cảnh. - Tuy nhiên kiên nhẫn không đồng nghĩa với việc trì chệ, bảo thủ, ngại thay đổi trước cái mới - Phê phán những người sống không có ý chí, nghị lực, ngại khó, ngại khổ * Bài học nhận thức và hành động: Mỗi người cần rèn luyện cho mình tính kiên nhẫn để thành công trong cuộc sống.
- Chú ý: Yêu cầu chung về hình thức và nội dung của đoạn văn NLXH: - Đảm bảo cấu trúc và hình thức đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, đầy đủ; - Dẫn chứng tiêu biểu (chọn lọc 1 hoặc 2 dẫn chứng nổi bật đưa vào đoạn văn); - Kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng; - Có thể trình bày quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. - Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. - Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. - Đoạn văn là một chỉnh thể thống nhất quan điểm, nội dung, tránh lạc đề, lệch lạc quan điểm ở đầu đoạn, thân đoạn và cuối đoạn thiếu thống nhất.
- ĐỀ 2: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Cô Tâm bớt mệt hẳn đi khi nhìn thấy cây đa và cái quán gạch lộ ra trong sương mù. Cùng một lúc, dãy tre đầu làng gần hẳn lại, cành tre nghiêng ngả dưới gió thổi và nghe thấy tiếng lá rào rào và tiếng thân tre cót két. Cô sắp về đến nhà rồi, gánh hàng trên vai nhẹ đi, và những cái uốn cong của đòn gánh bây giờ nhịp với chân cô bước mau. Cô thấy chắc dạ và ấm cúng trong lòng, bỏ hẳn nỗi lo sợ từ nãy vẫn quanh quẩn trong trí khi cô qua quãng đồng rộng, trơ gốc rạ dưới gió bấc vi vút từng cơn. Qua cái cổng gạch cũ, cô vào hẳn trong làng. Ngõ tối hơn, đất mấp mô vì trâu bước, nhưng cô thuộc đường lối lắm. Chân cô dẫm lên lá tre khô và tai nghe tiếng xao xác đã quen; mùi bèo ở dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt. Ði ngang các nhà quen, cô thấy ánh sáng đèn chiếu qua rào, và tiếng những người quen thuộc ở trong đưa ra. – “À, bác cả Sĩ đã về rồi”. Lần nào hàng bác cũng bán hết sớm, bác cũng ra về trước vì nhà có con mọn. Còn cô, cô cũng có thể về sớm được vì chợ chiều cũng vắng người mua. Nhưng cô còn cứ vui chị vui em, lần khần ở lại. (Trích Cô hàng xén – Thạch Lam, NXB Văn hóa Thông tin, 2007) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích? Phương thức biểu đạt chính: Tự sự Câu 2. Tìm 2 hình ảnh miêu tả làng quê Việt Nam bình dị trong câu văn “Chân cô dẫm lên lá tre khô và tai nghe tiếng xao xác đã quen; mùi bèo ở dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt.” Câu 3. Nêu tâm trạng của nhân vật cô Tâm khi quẩy gánh hàng xén trở về nhà? Tâm trạng của nhân vật cô Tâm khi quẩy gánh hàng xén trở về nhà: Cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái, bình yên khi tắm mình trong bầu không khí yên bình, trong trẻo và quen thuộc của quê hương. Cô Tâm gánh hàng đi chợ suốt một ngày dài đằng đẵng nhưng vẫn có thể gác đi nỗi vất vả để lắng tiếng xao xác giẫm lên lá khô, ngửi mùi bèo dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt Câu 4. Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của những điều nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống của mỗi người.
- Trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của những điều nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống của mỗi người. a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: Trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của tinh thần lạc quan trong cuộc sống. c. Triển khai vấn đề nghị luận: - Những điều bình dị sẽ giúp chúng ta cân bằng cuộc sống, tâm hồn ta trở nên bình yên, quên đi những áp lực sau những giờ làm việc căng thẳng. - Cuộc sống cũng chứa đựng những biến cố, những bất trắc khó lường. - Trước những biến cố đó, con người càng cần phải trân trọng điều nhỏ bé, bình dị hàng ngày. - Biết nâng niu trân trọng những điều bình thường, giản dị ấy, con người mới biết sống tốt hơn, sống tử tế, nhân hậu hơn. - Đây cũng là ý nghĩa nhân văn cao cả của những điều nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống.
- ĐỀ 3: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Tình yêu thương chân thật thường rất vị tha. Người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là bản thân mình. Tình yêu ấy làm cho chúng ta thay đổi bản thân và ngày một trưởng thành hơn. Tình thương yêu chân thành và sâu sắc bao giờ cũng trường tồn ngay cả sau khi người đó đã từ giã cõi đời. Tuy nhiên, yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó (...) Hãy bày tỏ tình yêu thương với mọi người xung quanh ngay khi chúng ta còn hiện diện trong cuộc sống này. Hãy nhớ rằng tình yêu thương ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta. Bạn đừng ngần ngại khi muốn nói với ai đó rằng bạn rất yêu quý họ! (Trích Cho đi là còn mãi, Azim Jamal & harvey MeKinnon, NXB Trẻ, 2020, tr.56-57) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận Câu 2. Theo đoạn trích, điều mà người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ đến là gì? Câu 3. Xác định nội dung chính của đoạn trích. - Ý nghĩa của tình thương yêu chân thật. - Hãy bày tỏ tình yêu thương với mọi người. Câu 4. Theo anh/chị, chúng ta nên bày tỏ tình yêu thương như thế nào với mọi người xung quanh? - Nói những lời yêu thương - Có những cử chỉ, việc làm thể hiện tình yêu thương - Không gây tổn thương cho người khác Câu 5: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống.
- Trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh của tình thương trong cuộc sống. a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: Trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống. c. Triển khai vấn đề nghị luận: - Sức mạnh của tình yêu thương biểu hiện ở sự quan tâm, chăm sóc, đồng cảm, chia sẻ chia giữa người với người. - Sức mạnh của tình yêu thương giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách, hoạn nạn, gắn kết mọi người với nhau, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau. - .
- ĐỀ 4: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Ngày 8/9/2021 vừa qua, kênh truyền hình VTV1 đã phát sóng bộ phim tài liệu “Ranh giới” của đạo diễn Tạ Quỳnh Tư và tạo sự chú ý cùng sự xúc động lớn trong công chúng. Bộ phim đã tái hiện một cách chân thực “sự khốc liệt kinh khủng” của dịch Covid-19, mang đến cho mọi người cái nhìn toàn cảnh về những hình ảnh đã và đang diễn ra ở Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh, nơi điều trị cho rất nhiều sản phụ đã bị nhiễm COVID-19. Đó cũng là những hình ảnh chung của đội ngũ y bác sĩ, cán bộ y tế cả nước đang căng mình chống dịch. Đạo diễn Tạ Quỳnh Tư chia sẻ: Có quá nhiều điều ám ảnh. Có những nhân vật mình vừa động viên họ xong, nhưng chỉ vài tích tắc sau, họ đã phải đưa đi cấp cứu, rơi vào tình trạng hôn mê. Hay những cuộc điện thoại gấp gáp được các bác sĩ nối cho bệnh nhân và người thân trước khi bệnh nhân được đặt nội khí quản. Sau cuộc gọi đó, không biết có còn cuộc gọi thứ hai nữa không. Những người nhiễm bệnh mất đi mà không có người thân bên cạnh. Người thân của họ cũng không được nhìn mặt họ lần cuối nữa Và một điều ám ảnh khác với tôi chính là hơi thở. Trước đây, tôi không tưởng tượng ra được hết. Nhưng khi thấy những thai phụ thèm hơi thở, và khi có những ống thở oxy rồi, giai đoạn tiếp nhận ống thở đó với họ cũng rất khó khăn. Việc bệnh nhân thèm thở đã ám ảnh tôi rất nhiều. Sau chuyến đi, điều mà tôi nhận được là việc thấu hiểu hơn về giá trị cuộc sống. Những gì mình đang có là quá lớn và mình cần phải biết trân trọng. Có những lúc cuộc sống bận rộn, mình cáu gắt, mình không nghĩ được nhiều thì giờ là lúc để mình chậm lại, để mình nhìn lại. Và hơi thở của mình quý giá nhường nào! (Nguồn: Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích? Câu 2. Những điều ám ảnh đối với đạo diễn Tạ Quỳnh Tư khi thực hiện bộ phim được anh chia sẻ trong đoạn trích là gì? Câu 3. Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Câu 4. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về vai trò của việc biết trân trọng giá trị cuộc sống.

