Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh lớp 2, 3 trong mô hình trường học mới VNEN - Nguyễn Thùy Anh

pdf 15 trang Khải Bình 12/05/2026 1610
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh lớp 2, 3 trong mô hình trường học mới VNEN - Nguyễn Thùy Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_nang_luc_tu.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh lớp 2, 3 trong mô hình trường học mới VNEN - Nguyễn Thùy Anh

  1. Sáng kiến kinh nghiệm Trường Tiểu học Thạch Mỹ Chủ nhật, 06/11/2016 | 17:01 Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh lớp 2, 3 trong mô hình trường học mới VNEN A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn đề tài: Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 (Số 29-NQ/TW) về "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế". Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Tiểu học là bậc học nền tảng. Sự thành công của giáo dục Tiểu học có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển và chất lượng của các bậc học tiếp theo. Đây là bậc học cơ sở đặt nền móng cho sự phát triển của một nền giáo dục quốc gia. Mục tiêu giáo dục của bậc Tiểu học hiện nay: “Hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở ”. Để đáp ứng yêu cầu nói trên, một trong những giải pháp cụ thể là phải tìm ra một mô hình nhà trường mới mang tính khả thi. Mô hình trường học mới (VNEN) là kiểu dạy học áp dụng việc đổi mới sư phạm, trong đó nổi bật là quá trình cùng nhau tự học, tự quản, tự đánh giá của học sinh dưới sự tổ chức linh hoạt của giáo viên, từ đó dần hình thành và phát triển các tính cách phù hợp các mục tiêu giáo dục hiện đại, nhân văn. Học tập theo mô hình VNEN giúp học sinh phát huy tích cực tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú trong học tập. Để mô hình trường học này đạt được hiệu quả như mong muốn thì trong quá trình dạy và học việc tự quản, tự học, tự đánh giá của học sinh có vai trò to lớn quyết định sự thành bại của quá trình dạy học. Tuy nhiên do đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học, nhất là đối với lứa tuổi học sinh lớp 2, lớp 3. Giai đoạn của lứa tuổi đầu tiên đến trường - trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo. Trẻ em lứa tuổi này thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo, các em còn nhỏ dại chưa thật sự ý thức được tầm quan trọng của việc học tập. Do đó việc tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh còn hạn chế. Vậy làm thế nào để nâng cao năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá cho học sinh trong học tập theo mô hình trường học mới (VNEN) nhất là học sinh ở lớp 2, lớp 3 đó là câu hỏi đặt ra cho giáo viên trong quá trình dạy học. Xuất phát từ những lí do trên, trong phạm vi bài viết này tôi chọn đề tài: Một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh lớp2, 3 theo mô hình trường học mới - VNEN. II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở các lớp 2, 3. - Nghiên cứu đặc điểm tâm lý, nhận thức của học sinh ở độ tuổi lớp 2, 3. - Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho 1 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  2. Sáng kiến kinh nghiệm học sinh lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới (VNEN). 2. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu về thực trạng dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở các lớp 2, 3. - Nghiên cứu thực trạng việc tự quản, tự học, tự đánh giá của học sinh lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới (VNEN). - Nghiên cứu những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực tự quản, tự học cho học sinh lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới (VNEN). III. Mục tiêu của đề tài -Nắm được thực trạng dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở các lớp 2, 3 trong trường tiểu học hiện nay. - Tìm hiểu được năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh ở các lớp 2, 3 đang học theo mô hình trường học mới (VNEN). - Phân tích nguyên nhân, hạn chế về năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh lớp 2, 3 đang học theo mô hình trường học mới (VNEN). Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giúp giáo viên có phương pháp trong quá trình dạy học dể nâng cao năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá đối với học sinh lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới. Góp phần nâng cao hiệu quả dạy theo mô hình trường học mới (VNEN) nói chung và dạy học ở các lớp 2, 3 nói riêng. Cũng như góp phân nâng cao hiệu quả dạy học ở bậc học tiểu học. IV. Giả thiết khoa học Nêu trong quá trình dạy và học theo mô hình trường học mới nói chung và ở các lớp 2, 3 nói riêng, giáo viên biết sử dụng một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh thì hiệu quả của mô hình trường học mới sẽ đạt được kết quả như mong muốn. V. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 1. Nhiệm vụ - Tìm hiểu về đặc điểm của mô hình trường học mới (VNEN) ở bậc tiểu học. - Điều tra thực trạng dạy và học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở các lớp 2, 3. - Điều tra năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh lớp 2, 3 trong mô hình trường học mới (VNEN). Đồng thời tìm hiểu đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 2, 3. - Đề xuất một số biện pháp để nâng cao năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá cho học sinh lớp 2, 3. 2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp đọc tài liệu. - Phương pháp điều tra. - Phương pháp phân tích, tổng hợp. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn. - Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm. VI. Ứng dụng của đề tài Nếu đề tài được nghiên cứu thành công sẽ giúp bản thân thực hiện tốt quá trình dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở tiểu học nói chung và ở các lớp 2, 3 nói riêng. Nó sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích giúp các bạn đồng nghiệp vận dụng linh hoạt vào quá trình dạy học của mình nhằm nâng cao hiệu quả dạy học nhất là những giáo viên dạy ở các lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới (VNEN). Để tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo ở tiểu học. 2 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  3. Sáng kiến kinh nghiệm B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận 1. Đặc điểm cơ bản của mô hình trường học mới (VNEN) Mô hình trường học mới (VNEN) là kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, tăng cường tương tác giữa giáo viên và học sinh, tạo bầu không khí học tập nhẹ nhàng. thân thiện. Điểm nổi bật của mô hình là đổi mới về các hoạt động sư phạm, trong đó đổi mới về cách tổ chức lớp học. Mô hình VNEN thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh; chuyển việc truyền thụ của giáo viên thành việc hướng dẫn học sinh tự học. Lớp học do học sinh tự quản và được tổ chức theo các hình thức, như: Làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu. Học sinh được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em. Học sinh khá giỏi được phát huy, học sinh còn hạn chế, yếu kém được học sinh của nhóm và giáo viên giúp đỡ kịp thời ngay tại lớp. Tài liệu, sách, vở cho dạy và học được thiết kế, biên soạn rất phù hợp để học sinh có thể tự đọc, tự tìm hiểu tiếp cận kiến thức trong mỗi giờ học tại lớp dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên và tổ chức học tập của nhóm. Học tập theo mô hình VNEN giúp học sinh phát huy tích cực tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú trong học tập. Đây là phương pháp dạy học mới, giúp các em phát huy tốt các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học. Cách thức tổ chức lớp học cũng khác hơn so với cách thức dạy học truyền thống, lớp học được bố trí, tổ chức ngồi học theo nhóm, ngồi quay mặt vào nhau để cùng trao đổi và tự học. Quản lý lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh” do các em bầu ra và đảm nhiệm, đây là một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập. Học sinh còn có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tham gia, kỹ năng hợp tác trong các hoạt động. Các em sẽ tự tin hơn và luôn ở thế chủ động tham gia sôi nổi, hào hứng vào bài học. Các em bước đầu hình thành ý thức "Khi đến trường mình phải bắt đầu và kết thức hành động như thế nào", không phải chờ đến sự nhắc nhở của giáo viên. Đồng thời, xây dựng không gian lớp học với “Góc học tập”, “Góc cộng đồng”, “Thư viện lớp học”, mở nhiều “hòm thư vui”, hòm thư “Điều em muốn nói” cũng như trang trí lớp học, tạo ra môi trường giáo dục thân thiện, an toàn. 2. Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học Học sinh tiểu học thường là những trẻ có tuổi từ 6 - 11, 12 tuổi. Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường - trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo. Trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo. Là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học. Cùng với cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ nhiều điều mà trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được. Từ đó, cùng với sự phát triển về thể chất và dựa trên những thành tựu phát triển tâm lí đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm lí của mình, mà trước hết là tính chủ định, kĩ năng làm việc trí óc, sự phản tỉnh, những cấu tạo tâm lí mới đặc trưng cho lứa tuổi này. Ngoài ra, nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi hỏi 3 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  4. Sáng kiến kinh nghiệm mới của cuộc sống. Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong môi trường “trung lập về tình cảm”, mà còn phải thích ứng với những bó buộc không tránh khỏi và chấp nhận việc một người lớn ngoài gia đình (thầy, cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ. Trẻ chẳng những phải ý thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một cách có chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vận hành cùng một lúc các mối quan hệ với các đối tượng khác nhau và mang các tính chất khác nhau. Trước những thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội các cách thức, phương thức phức tạp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa mãn những yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường và nhờ vậy “đẩy” được sự phát triển của mình lên một mức cao hơn. Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội trên tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học. Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống nhà trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên - lứa tuổi có xu thế vươn lên làm người lớn. Về việc này, N.X.Leytex đã khắc họa: “ Tuổi tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế. Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này - sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối với các đối tượng mà các em được tiếp xúc.. Học sinh tiểu học ngày nay là những chủ thể đang trở thành chính mình bằng hoạt động của mình dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người lớn theo phương pháp nhà trường hiện đại. Trẻ em ở lứa tuổi này dễ nhớ nhưng cũng chóng quên, các em thường hiếu động dễ bị cuốn hút bởi những sự việc khác nên việc các em thiếu tập trung trong giờ học, thiếu tự tin, chưa chấp hành nội quy lớp học dễ xẩy ra. II. Cơ sở thực tiễn 1. Thực trạng dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở các lớp 2, 3 Mặc dù mô hình trường học mới (VNEN) mới được triển khai vào một số trường học trên địa bàn và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định. Song theo đánh giá của các giáo viên và thực trạng dạy học hiện nay để có thể thực hiện được đầy đủ các yêu cầu của phương pháp tổ chức lớp học VNEN là điều không dễ, nhất là đối với các lớp 2, 3 . Lớp học bố trí theo nhóm, học sinh được tự do thảo luận làm việc nhóm nên việc quản lý, giữ trật tự trong lớp học rất khó giám sát bao quát hết các nhóm. Trong hoạt động tương tác giữa các học sinh, chỉ những em mạnh dạn mới hay giơ tay phát biểu, một số học sinh không tham gia thảo luận, thụ động và ỷ lại. Việc tự quản, tự học và tự đánh giá còn nhiều hạn chế. Vẫn còn nhiều em chưa chú ý nghiên cứu để tìm ra kiến thức, chưa biết chia sẻ kết quả với bạn trong nhóm, ngồi còn làm việc riêng, nói chuyện riêng với nhau, không chú ý đến việc học tập. Nhất là những học sinh trung bình và yếu. Khi thảo luận nhóm không đưa ra được ý kiến của mình, còn phụ thuộc vào kết quả của các bạn khá giỏi. Khi đánh giá kết quả của mình cũng như đánh giá bạn còn hình thức, diễn đạt chưa trôi chảy, nhiều lúc 4 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  5. Sáng kiến kinh nghiệm nói trả lời nhưng như đọc thuộc lòng, cử chỉ điệu bộ chưa thật tự nhiên. Mặt khác, việc chuẩn bị bài học ở nhà của một số học sinh chưa tốt nên dẫn đến việc đến lớp thụ động không học bài hoặc ỷ vào bạn. Bên cạnh đó trong quá trình dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở lớp 2, 3 một số giáo viên vẫn còn nói nhiều, làm thay nhiều cho học sinh. Từ đó dẫn đến việc tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh lớp 2, 3 trong mô hình trường học mới (VNEN) còn hạn chế. Sau khi học được hơn 1 tháng, chúng tôi đã tiên hành khảo sát học sinh ở lớp 2, 3 trong trường như sau : *Kết quả khảo sát năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh ở lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới ( VNEN): *Học sinh khối 2: Các năng lưc Tổng Mức đô đánh giá Số HS Rất tốt Tốt Bình thường Chưa tốt TS % TS % TS % TS % Tự quản 28 4 14% 6 21% 8 28% 10 37% Tự học 28 6 21% 8 28% 4 14% 10 37% Tự đánh giá 28 3 10% 4 14% 8 28% 13 48% Bảng I: Kết quả khảo sát học sinh lớp 2 vào đầu năm học *Học sinh khối 3: Các năng lưc Tổng Mức đô đánh giá Số HS Rất tốt Tốt Bình thường Chưa tốt TS % TS % TS % TS % Tự quản 30 6 20% 8 27% 7 23% 9 30% Tự học 30 7 23% 9 30% 6 20% 8 27% Tự đánh giá 30 6 20% 9 30% 8 27% 7 23% Bảng II : Kết quả khảo sát học sinh lớp 3 vào đầu năm học Khi tiến hành khảo sát học sinh trên hai lớp học tôi thấy ở lớp 2, trong số 28 em học sinh trong lớp học chỉ có 10 em có ý thức tốt trong học tập, không nói chuyện riêng, làm việc riêng, biết nhắc nhở bạn khi bạn không tập trung học tập trong giờ học; có 14 em biết tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập trong từng tiết học, biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời từ giáo viên và bạn học; có 7 em biết nhận xét, đánh giá kết quả học tập của mình và của các bạn trong lớp. Ở lớp 3, trong tổng số 30 em chỉ có 14 em có năng lực tự quản tốt , 16 em có năng lực tự học tốt , có 15 em có năng lực tự đánh giá tốt . Như vậy nhìn vào kết quả khảo sát trên chúng ta thấy, ở các lớp 2, 3 về năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá chưa đáp ứng được yêu cầu của mô hình trường học mới (VNEN). 2. Nguyên nhân của những hạn chế dạy học theo mô hình trường học mới ở các lớp 2, 3. a. Về phía học sinh Các em học sinh ở các lớp 2, 3 còn nhỏ dại, đặc điểm tâm lí, nhận thức, ngôn ngữ của các em chưa đạt tới đỉnh cao, vừa bước vào giai đoạn chuyển từ hoạt động chủ 5 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  6. Sáng kiến kinh nghiệm đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập nên việc tự quản, tự học và tự đánh giá của các em còn hạn chế. Về nhận thưc tri giác của của các em thường đượm màu sắc rực rỡ, số lượng chi tiết tri giác ít. Các em thường bị thu hút bởi các chi tiết ngẫu nhiên, khả năng tổng hợp, quan sát kém. Trong hoạt động phân tích tổng hợp cũng như hoạt động khái quát hóa các em thường cắn cứ vào dấu hiệu bề ngoài cụ thể, trực quan chưa chú ý đến những dấu hiệu chung, bản chất các em thường phán đoán theo dấu hiệu một chiều, dựa vào những dấu hiệu duy nhất. Chính vì thể các em thường thiếu tập trung trong các giờ học, hiểu biết về một sự viêc còn hạn chế, chưa sâu sắc. Ngôn ngữ của học sinh lớp 2, 3 đã phát triển, cách diễn đạt đã phong phú. Mặc dầu vậy nhưng các em còn mắc nhiều lỗi phát âm, dùng từ, thường lúng túng khi trình bày bài nói, bài viết. Kĩ năng sống của các em còn hạn chế, các em chưa có khả năng tự lập cho bản thân. Các em chưa có các kĩ năng cần thiết cho việc học tập và sinh hoạt. Một số học sinh thiếu thốn tình cảm (như chỉ ở với mẹ hoặc bố, hay ở với ông bà,cha mẹ làm ăn xa) nên các em không được quan tâm, giúp đỡ toàn diện như các bạn cùng trang lứa, có em còn có những biểu hiện mặc cảm tự ti, không dám hòa mình trong mọi hoạt động chung của lớp. Học sinh chưa có động cơ tự học tập, thiếu hứng thú, chưa thấy lợi ích của việc học, chưa có thói quen và kỹ năng lao động trí óc. Mặt khác về ngôn ngữ, vốn sống của các em còn giai đoạn mới hình thành nên việc tự điều khiển hoạt động học tập cho bản thân và điều khiển hoạt động học tập cho các bạn cũng như đánh giá kết quả học tập của các em đang gặp nhiều khó khăn. Nhiều học sinh khi trình bày trước lớp theo kiểu đọc thuộc lòng chứ không phải diễn đạt bằng lời nói. Mặt khác không phải một đứa trẻ nào sinh ra và lớn lên đều được phát triển trí lực một cách bình thường, mỗi em đều có một trình độ nhận thức khác nhau, sự tiếp nhận kiến thức khác nhau, ý thức tự học cũng khác nhau... Chính vì thế mà trong quá trình học tập việc tự quản, tự học, tự đánh giá của các em nhất là học sinh ở các lớp 2, 3 còn hạn chế, chưa đồng đều. b. Về phía giáo viên Do mô hình trường học mới (VNEN) mới được áp dụng nên nhiều giáo viên còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức dạy học và điều khiển các hoạt động học tập của học sinh. Giáo viên còn lúng túng trong việc sử dụng phương pháp dạy học mới sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của từng bài học cũng như đặc trưng của môn học. Trong khi cần chú trọng việc hình thành cho học sinh phương pháp học tập, rèn kỹ năng và thói quen tự tìm tòi nghiên cứu trước các sự vật, hiện tượng tự nhiên thì không ít giáo viên lại yêu cầu học sinh đọc thuộc lòng, nhồi nhét kiến thức, bắt học sinh phải công nhận một cách miễn cưỡng không phát huy được tính tò mò ham hiểu biết của học sinh. Một số giáo viên thiếu kĩ năng, phương pháp bồi dưỡng các năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh. Mặt khác, một số giáo viên chưa phát huy tốt tính tích cực của học sinh, chưa nắm vững tâm lý học sinh, thường có thiện cảm với học sinh khá giỏi nên thường gọi học sinh khá giỏi trình bày một vấn đề nào đó và chưa sâu sát, rèn luyện kĩ năng tự học, tự đánh giá cho những học sinh yếu kém, ít cho những đối tượng này trình bày trước lớp vì tâm lí sợ các em không nói đúng, trả lời đúng, làm mất thời gian .... Giáo viên chưa tìm hiểu hết tâm tư nguyện vọng và hoàn cảnh của các em, chưa biết nghe và lắng nghe các em làm cho học sinh yếu cảm thấy sợ sệt tự ti, mặc cảm, các em chưa dám thổ lộ, tâm tình với giáo viên. c. Từ phía phụ huynh học sinh Qua điều tra thực tế ở các trường tiểu học và thực tế làm công tác chủ nhiệm của 6 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  7. Sáng kiến kinh nghiệm bản thân trong nhiều năm tôi thấy nhiều phụ huynh chưa thật sự quan tâm tới việc học tập của con em mình. Việc này càng khó khăn hơn đối với những trường ở nông thôn, ở những xã nghèo, mặt bằng dân trí chưa cao. Mặt khác, với những địa bàn nông thôn như các trường mà tôi đã từng công tác thì bố mẹ các em chủ yếu là người dân bằng nghề nông. Thậm chí còn có rất nhiều gia đình không có ruộng để làm mà sống bằng đồng tiền làm thuê. Vì vậy về thu nhập của người dân chưa cao dẫn đến đời sống kinh tế còn thấp. Việc mua sắm đồ dùng cho con em còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và nhu cầu giảng dạy của giáo viên. Cụ thể là khi đi học các em còn thiếu sách vở, đồ dùng học tập. Mặt bằng dân trí có phần thấp hơn so với địa bàn thành phố, thị xã nên nhận thức của phụ huynh còn hạn chế. Sự quan tâm giáo dục của gia đình đối với các em chưa đúng mức, nhiều phụ huynh còn quan niệm việc giảng dạy và giáo dục học sinh là của giáo viên và nhà trường đảm nhiệm. Việc này đồng nghĩa với việc khoán trắng trọng trách cho người giáo viên. Cũng có gia đình quan tâm tới việc học của con em mình nhưng lại không nắm được nội dung giảng dạy cũng như phương pháp dạy dẫn tới hiệu quả không cao. Thậm chí có trường hợp dạy sai dẫn tới các em nhận thức lệch hướng của vấn đề. Mà trong mô hình trường học mới yêu cầu học sinh phải có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp nên nếu các em không nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của bố mẹ thì sẽ gặp khó khăn hơn trong việc tự học, tự tìm tòi kiến thức trên lớp. Một số phụ huynh học sinh chưa thực sự vào cuộc và chưa có nhiều hiểu biết về mô hình trường học mới VNEN chính vì vậy khi học sinh chia sẻ các bài tập ứng dụng với người thân thì kết quả chưa cao, còn mang tính đại khái. III. Một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản, tự học, tự đánh giá cho học sinh lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới (VNEN) 1. Nâng cao năng lực tự quản cho hoc sinh. a. Xây dựng hội đồng tự quản làm việc có hiệu quả Để nâng cao năng lực tự quản cho tất cả học sinh trong lớp học, trước hết giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp đó cần xây dựng được một hội đồng tự quản làm việc có hiệu quả. Trước khi thành lập hội đồng tự quản học sinh, giáo viên phải tìm hiểu kĩ đặc điểm tâm lí, năng lực, hoàn cảnh gia đình của học sinh. Để có định hướng khuyến khích các em ứng cử, đề cử vào các chức danh của hội đồng tự quản lớp học phù hợp với năng lực của từng em. Giáo viên phải chức cho các em tìm hiểu về các chức danh, nhiệm vụ, quyền lợi của từng chức danh trong hội đồng tự quản lớp học. Sau khi học sinh đã hiểu rõ trách nhiệm, quyền lợi của từng chức danh, giáo viên mới tổ chức cho các em bầu cử hội đồng tự quản. Sau khi bầu cử hội đồng tự quản, giáo viên là người hướng dẫn, giúp đỡ, bồi dưỡng các em trong hội đồng tự quản hiểu và biết cách thức làm việc của từng thành viên. Đối với học sinh lớp 2, 3 giáo viên cần dành ra nhiều thời gian ngoài giờ lên lớp để tổ chức "tập huấn" cho các em trong hội đồng tự quản. Giáo viên phải làm mẫu để các em làm theo. Chú trọng rèn luyện các kĩ năng giao tiếp, đăc biệt là kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ tự nhiên trước tập thể. Cho em em tập làm những người "dẫn chương trinh" tránh cho các em nói như đọc thuộc lòng. Để làm được điều này, đối với học sinh lớp 2, 3 giáo viên phải kì công hướng dẫn, giúp đỡ các em, tranh thủ nhiều thời gian nói chuyện với các em. Để từ đó giúp các em hình thành được kĩ năng diễn đạt của mình trước tập thể. Giáo viên không nên nóng vội, phải kiên trì giúp đỡ học sinh, không phải ngay từ đầu các em phải diễn đạt tốt. Cần động viên khích lệ sự tiến bộ của các em kịp thời để các em hứng thú rèn luyện. Đối với lớp 7 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  8. Sáng kiến kinh nghiệm học tôi giảng dạy, ban đầu sau mỗi tiết học tôi thường cho các em luân phiên nhau ( hôm nay nhóm bạn này, hôm sau nhóm bạn khác, làm sao để tất cả học sinh đều được trình bày trước lớp, lúc đầu cho những em mạnh dạn, sau đó chú trọng những em rụt rè, nhút nhát) thi đua nhau trình bày một vấn đề nào đó trước lớp, hay chỉ đơn giản là trả lời một câu hỏi của giáo viên. Ví dụ tổ chức cho các em thi giới thiệu về bản thân, giới thiệu về gia đình em, giới thiệu về nơi em ở, giới thiệu về quê hương em, chia sẻ cách học ở nhà của em hay em nói cho cô và các bạn biết về ước mơ của em sau này, em hãy nói cảm nghĩ của mình về lớp học chúng ta, em hãy nói cho cô giáo và các bạn biết về nguyện vọng của em trong năm học này ...Chính những lần tổ chức đó giáo viên kịp thời giúp các em rèn luyện phát triển ngôn ngữ, rèn luyện kĩ năng giao tiếp trước đám đông. Giúp các em mạnh dạn, tự tin và qua đó giáo viên nắm rõ hơn về đặc điểm của từng học sinh để có biện pháp giúp đỡ kịp thời. b. Phân chia nhóm cho học sinh Học theo mô hình VNEN, bàn ghế sẽ được sắp xếp cho học sinh ngồi đối diện nhau. Học sinh tự thảo luận, tự tìm hiểu vướng mắc và tự đưa ra phương án giải quyết. Ưu điểm của phương pháp học nhóm được phát huy rất rõ nét trong học nhóm theo mô hình VNEN, tất cả học sinh trong nhóm đều được luân phiên nhau làm nhóm trưởng, hướng dẫn các bạn trong nhóm để điều hành các hoạt động do giáo viên yêu cầu và không có một bất cứ học sinh nào ngoài cuộc, không một học sinh nào ngồi chơi. Tuy nhiên, để tiết học dạy theo mô hình VNEN thành công hay không thì phụ thuộc rất nhiều vào các nhóm trưởng. Công việc chính của nhóm trưởng đó là: thay giáo viên điều hành các bạn hoạt động nhóm, xác định được mục tiêu của hoạt động nhóm, phân công nhiệm vụ cho công bằng giữa các thành viên trong nhóm. Một điều quan trọng nữa đó là nhóm trưởng phải biết tự mình làm thế nào để huy động được sự tham gia của mọi thành viên vào giải quyết nhiệm vụ nhóm và phải tạo ra những tương tác đa chiều giữa các thành viên trong nhóm. Hướng dẫn các bạn biết cách tìm kiếm hỗ trợ và giải quyết được một số khó khăn gặp phải. Biết quản lí và sử dụng thời gian hiệu quả, biết sử dụng và bảo quản tài liệu học tập. Biết tổ chức và quản lí công việc. Biết giơ thẻ khi đã hoàn thành công việc và biết giơ thẻ cứu trợ khi không tự giải quyết được công việc.Vì vậy, việc phân chia các nhóm phù hợp là rất quan trọng. Điều này đòi hỏi giáo viên phải tìm hiểu kĩ đặc điểm của từng học sinh để phân chia nhóm cho phù hợp, làm sao để tất cả học sinh trong nhóm đều vui vẻ, thoải mái cùng nhau học tập, cùng nhau chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ. Phải phân công các nhóm đồng đều có học sinh khá giỏi, mạnh dạn có học sinh yêu, rụt rè. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải thương xuyên quan tâm giúp đỡ các nhóm, kịp thời động viên sự tiến bộ của học sinh, kịp thời giúp đỡ các em khi có vướng mắc, luôn tạo tâm lí thoải mái để các em hứng thú trong các hoạt động và mang lại hiệu quả học tập cao. c. Bồi dưỡng kĩ năng điều hành cho các nhóm trưởng Vào những ngày đầu năm học, giáo viên cần phải bồi dưỡng kĩ năng điều hành cho các nhóm trưởng. Tổ chức cho các nhóm trưởng ngồi lại với nhau, giáo viên hướng dẫn các em các nhiệm vụ cụ thể trong từng tiết học. Đối với những nhóm còn yếu, nhóm trưởng làm việc còn lúng túng. Vì vậy, người giáo viên phải là người “làm mẫu” cụ thể từng bước để các em theo dõi. Lúc này giáo viên đóng vai trò là một nhóm trưởng chứ không phải vai trò là một người giáo viên. Giáo viên cũng có thể chọn ra một số học sinh học giỏi, nhanh nhẹn trong học tập xếp cho các em này ngồi vào một nhóm để giáo viên huấn luyện. Khi học sinh đã biết việc và biết cách 8 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  9. Sáng kiến kinh nghiệm điều hành nhóm rồi thì chia các bạn này đến mỗi nhóm mỗi bạn làm nhóm trưởng các nhóm. Hoặc có thể cho nhóm làm tốt làm mẫu thảo luận một hoạt động nào đó và các nhóm còn lại chú ý để học tập theo. GV cũng không quên động viên, tuyên dương kịp thời các nhóm làm tốt. Việc tập huấn, bồi dưỡng kĩ năng điều hành cho các nhóm trưởng phải thường xuyên, mỗi lần thay nhóm trưởng, giáo viên cần phải tập huấn lại cho các nhóm trưởng mới và yêu cầu các nhóm trưởng cũ giúp đỡ nhóm trưởng mới. Một điều nữa cần phải lưu ý đó là vị trí đứng của giáo viên khi các nhóm thảo luận cũng hết sức quan trọng. Qua kinh nghiệm giảng dạy, tôi nhận thấy giáo viên nên bao quát lớp, vừa đánh giá đúng nhóm nào làm nhanh nhất, chậm nhất, nhóm nào giơ thẻ hoàn thành lên trước hoặc nhóm nào chậm nhất, nhóm nào giơ thẻ cần cứu trợ, để từ đó giáo viên kịp thời đến kiểm tra hay giúp đỡ. Giáo viên phải hướng dẫn cụ thể nhóm trưởng trrong việc điều hành và quản lí các bạn trong nhóm, để mỗi thành viên trong nhóm đều có ý thức tự quản tốt. Giáo viên có thể in cho nhóm trưởng các tờ phiếu để đánh giá ý thức tự quản của các bạn trong nhóm, sau mỗi giờ học giáo viên kiểm tra để kịp thời nhắc nhở học sinh có ý thức chưa tốt trong việc tự quản để các em rút kinh nghiệm trong những tiết học tiếp theo. d. Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, thân thiện Muốn xây dựng được mối đoàn kết, thân thiện giữa các bạn trong lớp với nhau, thì vai trò của hội đồng tự quản cũng không kém phần quan trọng đặc biệt là ban văn nghệ của lớp. Ban văn nghệ dưới sự hướng dẫn của giáo viên, vào giờ ra chơi ban văn nghệ tự tổ chức, tự khởi xướng ra các hoạt động, các trò chơi và giáo viên cùng tham gia chơi với học sinh. Trước khi chơi, giáo viên thường đưa ra những giải thưởng thú vị, giải nhất có thể là gói bánh, gói kẹo, hộp phấn, chiếc bút, quyển vở, quyển truyện . để kích thích tinh thần chơi cũng như đoàn kết của các em. Qua trò chơi, giáo viên vừa giúp ban văn nghệ thêm mạnh dạn, tự tin, rèn luyện thêm kỹ năng điều hành lớp vui chơi, văn nghệ, vừa giúp các em thể hiện sự đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thông qua những giờ giải trí thú vị ấy, học sinh càng thân thiết, quý mến nhau hơn và chắc chắn rằng các em sẽ sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống. Giáo viên luôn luôn sâu sát, giáo dục các em tinh thần đoàn kết, thân thiện với nhau trong lớp, coi lớp học là một gia đình các em đều là những đứa con trong gia đình ấy. e. Giáo dục ý thức tự quản cho học sinh Giáo viên phải thường xuyên giáo dục ý thức tự quản cho học sinh trong quá giảng dạy. Giúp các em có ý thức cao trong học tập, ngồi học không nói chuyện riêng, làm việc riêng, làm mất trật tự trong lớp học, gây ảnh hưởng chung cho các bạn trong lớp. Việc giáo dục này phải thường xuyên vì học sinh tiểu học có đặc điểm dễ nhớ nhưng cũng nhanh quên, bên cạnh đó các em còn hồn nhiên ngây thơ, hiếu động nên việc làm mất trật tự trong lớp học là thường xuyên xẩy ra, các em dễ bị lôi cuốn bởi một sự việc khác ngoài nhiệm vụ học tập trên lớp. Trong những giờ sinh hoạt lớp hay sinh hoạt đầu buổi giáo viên cần kể cho các em nghe những câu chuyện về tấm gương vượt khó trong học tập, tuyên dương những em có ý thức tốt trong học tập. Có những phần thưởng nhỏ để khích lệ học sinh có thành tích và ý thức học tập tốt, có những biện pháp giáo dục những học sinh chưa có ý thức tự quản trong lớp học như nhắc nhở các em, động viên khích lệ các em. Với những em thường xuyên có ý thức chưa tốt, thường nói chuyện riêng làm viêc, làm việc riêng, gây mất trật tự trong lớp học, chưa đoàn kết với bạn bè, giáo viên cần đến nhà học sinh tìm hiểu về 9 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  10. Sáng kiến kinh nghiệm hoàn cảnh gia đình của các em để rút ra nguyên nhân, trao đổi trực tiếp với gia đình và yêu cầu phối hợp giáo dục các em... Với những em học sinh này giáo viên phải thường xuyên để ý tới sự tiến bộ của các em để động viên kịp thời. Trong những giờ giải lao hay trước và sau buổi học giáo viên dành nhiều thời gian quan tâm tới các em, động viên các em, phải cho các em thấy được mình cũng yêu thương các em như những học sinh khác. Tránh làm cho các em thêm mặc cảm, tự ti. 2. Nâng cao năng lực tự học cho hoc sinh. Mô hình trường học mới chuyển quá trình thuyết giảng một cách hình thức, áp đặt của người dạy thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám phá của người học. Với cách tổ chức dạy học như vậy, cách đánh giá học sinh cũng được chuyển trọng tâm từ đánh giá "kết thúc", đánh giá, "tổng kết" sang đánh giá quá trình, đánh giá "tiến trình"; Chuyển đánh giá "bằng điểm số" sang đánh giá "bằng nhận xét".Trong mô hình trường học mới (VNEN) vấn đề tự học của học sinh được đặt lên hàng đầu, quyết định sự thành bại của quá trình dạy học. Giáo viên cần phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm vừa là giá đỡ, vừa là trụ cột chi phối các hoạt động sư phạm trong nhà trường VNEN. Tổ chức lớp học không chỉ phù hợp với phương pháp của VNEN mà còn tạo ra môi trường sư phạm thân thiện, dân chủ, hợp tác giữa các thành viên trong trường và với cộng đồng. Mô hình VNEN sẽ tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh phát huy tốt nhất các năng lực cá nhân và giá trị đích thực của các em. Kiểu cấu trúc bài học được khuyến khích sử dụng trong mô hình VNEN, đó là tổ chức dạy học người ta thường khuyến khích sử dụng quy trình thông qua các hoạt động trải nghiệm, khám phá, phát hiện của HS, quy trình gồm 5 bước chủ yếu sau: Gợi động cơ, tạo hứng thú Trải nghiệm Phân tích, khám phá,rút ra bài học Thực hành vận dụng. Để làm tốt 5 bước này, đòi hỏi bản thân người giáo viên phải tự thiết kế, đạo diễn các hoạt động học tập để giúp học sinh tự phát hiện kiến thức, phân tích kiến thức và sử dụng kiến thức. Trong mỗi tiết học, ở các lớp 2, 3 để đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều có khả năng tự học, tự hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình, giáo viên cần phân chia học sinh thành các nhóm : khá giỏi, trung bình và yếu kém để có hướng điều chỉnh tài liệu học tập cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Với học sinh khá giỏi, giáo viên cần thiết kế, điều chỉnh tài liệu theo hướng nâng cao lên, còn với học sinh trung bình và yếu kém thì phải thiết kế những câu hỏi dễ hơn, các bước hướng dẫn học tập cần chia ra từng bước nhỏ, cụ thể hơn để học sinh dễ tiếp cận và thực hiện được. Nhưng tất cả những điều chỉnh tài liệu cần phải phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp mình, đáp ứng được yêu cầu về chuẩn kiến thức và kĩ năng của bài học. Giáo viên phải rèn cho học sinh các kĩ năng làm việc có hiệu quả ngay từ đầu năm học. Giáo viên cần chú trọng rèn cho học sinh một số kĩ năng học tập. Trước hết phải rèn cho học sinh kĩ năng tự học theo nhóm. Mỗi hướng dẫn học trong tài liệu học tập bao gồm một chuỗi các hoạt động được thiết kế nhằm giúp học sinh tự học bằng cách thực hiện các yêu cầu, các chỉ dẫn, trong bài học. Vì vậy, trước hết người giáo viên cần quan tâm luyện tập cho học sinh các kĩ năng sau: -Kĩ năng đọc - hiểu tài liệu, giáo viên cần cho học sinh hiểu được các câu lệnh, các chỉ dẫn, các yêu cầu, các dạng hoạt động học tập. -Kĩ năng làm việc cá nhân, khi học sinh hoạt động cá nhân giáo viên phải rèn 10 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  11. Sáng kiến kinh nghiệm cho học sinh ý thức tập trung suy nghĩ để hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân, tự mình trình bày ý kiến cá nhân và tự đánh giá kết quả hoạt động của cá nhân. -Kĩ năng làm việc hợp tác theo cặp, theo nhóm, giáo viên phải rèn cho học sinh biết tổ chức hoạt động nhóm, nhận nhiệm vụ, lên kế hoạch, phân công, đảm nhận trách nhiệm, phối hợp với các thành viên trong nhóm để hoàn thành tốt công việc của nhóm. -Kĩ năng sử dụng đồ dùng học tập ở các góc học tập, sử dụng tài liệu tham khảo ở thư viện trong lớp học. -Kĩ năng tự học ở môi trường xung quanh, gia đình và cộng đồng. Đồng thời giáo viên phải rèn cho học sinh có được nhận thức đúng đắn về mục đích học tập và tự lực, tích cực thực hiện mục đích đó bằng hành động của chính mình. Học sinh được học tập theo khả năng và nhịp độ của riêng mình phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân học sinh. Vì vậy, kế hoạch dạy học cần được bố trí một cách linh hoạt. Mỗi học sinh được giao nhiệm vụ và mục tiêu học tập cụ thể, nhưng luôn có thể tự điều chỉnh hoạt động của chính mình để việc học phù hợp với nhịp độ tiếp thu của bản thân. Hoạt động tự học của học sinh vừa rèn luyện tính độc lập tích cực của học sinh, đồng thời thúc đẩy sự tham gia hợp tác, tăng cường ý thức tập thể của học sinh . Việc học tập tích cực trong nhóm cũng hình thành cho các em kĩ năng lắng nghe, kĩ năng ra quyết định....trước khi đưa ra vấn đề, tạo sự tương tác thân thiện giữa các bạn cùng nhóm, để có thái độ hỗ trợ, tương trợ lẫn nhau. tăng cường tích cự, chủ động, linh hoạt hơn để học sinh thực sự thạm gia vào quá trình chiếm lĩnh kiến thức.Tuy nhiên để học sinh dễ nhớ, dễ vận dụng và thuận tiện cho giáo viên trong tổ chức trong hoạt động tự học, học sinh thực hiện 10 bước học tập theo quy đinh. Tăng cường phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc hướng dẫn học sinh tự học. Đầu năm học cần tổ chức họp phụ huynh để truyên truyền cho phụ huynh hiểu về đặc điểm của mô học mới (VNEN). Hướng dẫn cho phụ huynh cách hướng dẫn, cách đánh giá học sinh tự học và tự đánh giá quá trình học tập của các em. Để nâng cao năng lực tự học cho các em giáo viên phải luôn tạo hứng thú cho các em trong học tập. Thường xuyên tổ chức các trò chơi cho học sinh. Trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên cần giúp học sinh nắm được mục tiêu từng bài học, nhiệm vụ của mình trong từng bài học, tự mình giải quyết nhiệm vụ học tập. Khi gặp khó khăn mới trao đổi với bạn, các bạn trong nhóm có nhiệm vụ giúp bạn hiểu và thực hiện nhiệm vụ đó. Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần linh hoạt, kịp thời động viên giúp đỡ học sinh khi các em gặp khó khăn trong trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình. Thường xuyên kiểm tra hộp thư vui, hộp thư điều em muốn nói để hiểu hơn về tâm tư, nguyện vọng của các em để kịp thời giúp đỡ, giải quyết những vướng mắc cho các em trong quá trình học tập. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải thường xuyên tăng cường việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học, các kỹ thuật dạy học để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, gắn nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn cũng như để giải quyết các chủ đề phức hợp của thực tiễn. Trước tiên mỗi giáo viên phải nắm chắc các phương pháp dạy học tích cực và các kỹ thuật dạy học tích cực được áp dụng rộng rãi ở nhiều vùng miền và đã mang lại kết quả cao. Trao đổi với đồng nghiệp, chuyên môn để tuỳ theo theo từng môn, từng bài, từng lớp tuỳ theo từng hoạt động để vận dụng phương pháp dạy học nào, kỹ thuật dạy học nào cho phù 11 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  12. Sáng kiến kinh nghiệm hợp đặc biệt gắn bài học với thực tế cuộc sống để học sinh nhớ lâu, không bị gò ép. Mỗi giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng để biết cách khai thác những yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống một cách phù hợp và có hiệu quả. Tổ chức dạy học phân hoá theo năng lực của học sinh dựa trên tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng. Tài liệu chuẩn kiến thức giúp cho giáo viên chủ động lượng kiến thức cho bài dạy. Bởi vậy khi thực hiện giảng dạy tôi đã phân loại học sinh theo năng lực thông qua kết quả học tập. Khi thấy lượng kiến thức quy định theo chuẩn kiến thức kỹ năng ở một số tiết không phù hợp tôi đã mạnh dạn đề xuất với tổ chuyên môn, nhà trường có phương án điều chỉnh phù hợp. Sử dụng tài liệu hướng dẫn học hợp lý khi giảng bài trên lớp, khắc phục dạy học theo lối đọc, chép. Khi thực hiện dạy học theo mô hình VNEN việc sử dụng tài liệu hướng dẫn học làm phương tiện dạy học là hết sức cần thiết. Giáo viên chú trọng khai thác đầy đủ nội dung tài liệu hướng dẫn học và cập nhật thêm kiến thức các nội dung tích hợp như giáo dục môi trường, giáo dục môi trường biển đảo, giáo dục kỹ năng sống...Sử dụng hợp lý công nghệ thông tin trong các bài học, khai thác tối đa thiết bị dạy học. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho tiết dạy thêm sôi động, thu hút sự tập trung của học sinh. Giáo viên thật sự phải có kiến thức về ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng thành thạo máy, nếu không sẽ phản tác dụng khi thực hiện. Ngoài ra, bản thân mỗi giáo viên phải có quyển số ghi lại nhật kí của quá trình dạy học, những học sinh cần quan tâm, ghi lại những thành công hoặc những khó khăn vướng mắc khi thực hiện các bước dạy học trên lớp. 3. Bồi dưỡng năng lực tự đánh giá cho học sinh Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải được xem như là một bộ phận không chỉ của cả quá trình dạy học mà là một bộ phận của mỗi hoạt động học tập. Kiểm tra đánh giá phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ngay trong quá trình thực hiện mỗi hoạt động học tập để kịp thời khuyến khích, động viên và nhất là giúp các em điều chỉnh những sai sót để hoạt động học tập có hiệu quả. Việc đánh giá hoạt động chủ yếu do học sinh thực hiện, học sinh tự đánh giá. Có những hoạt động học sinh tự đánh giá trong cặp, trong nhóm bằng cách đổi bài cho nhau để cùng rà soát xem kết quả nào đúng và đủ, kết quả nào chưa đúng và còn thiếu. Có những hoạt động học sinh tự đánh giá chéo giữa các nhóm. Có những hoạt động học sinh cùng giáo viên đánh giá theo những tiêu chí giáo viên đã nêu. Đối với học sinh lớp 2, 3 giáo viên luôn tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau trong học tập, để từ đó các em thấy được những việc làm đúng và việc làm sai, những điều mình cần phải học tập bạn để phát huy và khắc phục. Không nên chê các em trước các bạn khi các em mắc phải những khuyết điểm như bài làm sai, chữ viết chưa đẹp Những em có khuyết điểm giáo viên nên trực tiếp trò chuyện và nhắc nhở. Việc tự đánh giá của học sinh là hết sức quan trọng, qua đánh gia mình và đánh giá lẫn nhau giữa các bạn, các em sẽ nắm được nội dung bài học, ngoài ra còn rèn luyện kĩ năng giáo tiếp, mạnh dạn tự tin trước đám đông. Đối với những học sinh nhút nhát giáo viên cần cho các em đánh giá, nhận xét mình và bạn bằng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu. Trong việc nhận xét đánh giá của học sinh giáo viên cũng cần đưa ra thi đua trước lớp, nhóm nào, bạn nào có nhận xét đánh giá tốt cần được tuyên dương và có những phần thưởng nhỏ để động viên. Trong những tiết hoạt động tập thể giáo viên nên tổ chức một số cuộc thi như thi hùng biện, thi kể chuyện, thi em là nhóm trưởng giỏi, ...để từ đó rèn luyện kĩ năng giáo tiếp cho học sinh. 4. Một số lưu ý đối giáo viên giảng dạy ở lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới ( 12 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  13. Sáng kiến kinh nghiệm VNEN) - Khi tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) ở các lớp 2, 3 giáo viên không nên chia nhóm quá đông. - Tìm hiểu hoàn cảnh, đặc điểm tâm lí, năng lực của học sinh trước khi chia nhóm cho các em, nhắm giúp các em có sự hỗ trợ lẫn nhau tốt nhất. - Thương xuyên coi việc tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh đóng vai trò quan trọng quyết định sự thành bại đối với quá trình giảng dạy nói chung và giảng dạy ở các lớp 2, 3 nói riêng. - Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, tự chủ, linh hoạt trong phương pháp dạy học. Tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề của tổ của trường để học tập về đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần VNEN. - Không nên nóng vội, không được làm thay cho học sinh, phải có biện pháp thích hợp để động viên khuyến khích các em trong quá trình dạy học và phải thật sự thay đổi hình thức và phương pháp dạy học theo đặc trưng của mô hình trường học mới (VNEN), tuyết đối không sử dụng phương pháp "thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe" để giảng dạy kiến thức một cách áp đặt, rập khuôn, máy móc. - Trong sinh hoạt tổ chuyên môn kịp thời đưa ra những khó khăn, vướng mắc như: biện pháp để học sinh học nhóm tốt, biện pháp để giúp em nhóm trưởng có thể điều khiển tốt các hoạt động học tập của nhóm, biện pháp giáo dục ý thức tự quản cho học sinh, biện pháp gây hứng thú cho các em, biện pháp giúp các em tự tin trước tập thể hoặc biện pháp về đổi mới phương pháp dạy học của một hoạt động nào đó ở một bài dạy cụ thể ..trong tổ sẽ cùng nhau thảo luận để tìm ra cách giải quyết tốt nhất nhằm mang lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy của mình. - Thường xuyên tự học hỏi qua sách báo, thông tin đại chúng, qua đồng nghiệp thông qua các tiết học tốt, chuyên đề, thao giảng, tích cực thăm lớp dự giờ đồng nghiệp, tự tìm kiếm những thông tin trên mạng nhằm nâng cao tay nghề, tìm ra phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình. - Hàng năm, bản thân mỗi giáo viên cần đăng kí một định hướng đổi mới trong năm học có thể nhân rộng làm tài liệu tham khảo cho các đồng nghiệp. Đó là những lưu ý đối với giáo viên giảng dạy ở các lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới. Nhưng để mô hình trường học mới thực sự có hiệu quả thì bản thân người giáo viên phải có lòng nhiệt tình, yêu nghề, tâm huyết trong giảng dạy, chịu khó học hỏi, tìm tòi khám phá để tìm ra những biện pháp, những cách làm thích hợp, áp dụng hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Phải thường xuyên rèn cho học sinh ý thức tự học, tự thực hành để chiếm lĩnh tri thức mới, từ đó xây dựng tính tự giác, ý thức tự học và tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập trong mỗi học sinh. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ 1. Kết quả đạt được Mặc dù mô hình trường học mới (VNEN) vừa mới được áp dụng song bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Và trên đây là những giải pháp mà bản thân tôi đã đúc rút và vận dụng trong quá trình thực hiện dạy học theo mô hình trường học kiểu mới đặc biệt đối với học sinh lớp 2, 3 và đã đạt được những kết quả đáng mừng. Nề nếp lớp học ngày một tốt hơn, đa số các em không làm việc riêng, nói chuyện riêng trong giờ học. Không còn hiện tượng làm mất trật tự trong lớp học. Các phụ huynh đã quan tâm và có nhận thức đúng đắn về việc học tập của con em mình. Học sinh đều có ý thức tự học và học theo nhóm có hiệu quả cao, đặc biệt hầu hết các em đều có ý thức tự quản và tự giác trong mọi hoạt động, các em biết 13 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  14. Sáng kiến kinh nghiệm tự đánh giá qúa trình học tập của mình. Chất lượng học sinh được tăng lên rõ rệt. Học sinh ý thức được tinh thần trách nhiệm trong các hoạt động, phong trào thi đua của lớp; tinh thần đoàn kết, thân thiện; kĩ năng hợp tác và khả năng làm việc theo nhóm hiệu quả cao hơn. Các em biết giúp đỡ bạn học lẫn nhau, biết quan tâm đến việc học tập của bạn bè, biết thi đua trong lớp. Như vậy việc nâng cao năng lực tự học, tự quản và tự đánh gia cho học sinh có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình dạy học theo mô hình trường học mới, đặc biệt ở các lớp 2, 3 khi mà ý thức và nhận thức của các em còn đang ở giai đoạn vừa mới được hình thành. Sau một học kì thực hiện, tôi tiếp tục tiến hành khảo học sinh ở hai khối 2, 3 thu được kết quả như sau: *Học sinh khối 2 Các năng Tổng Mức đô đánh giá lưc Số HS Rất tốt Tốt Bình thường Chưa tốt TS % TS % TS % TS % Tự quản 28 9 32% 12 43% 5 18% 2 7% Tự học 28 10 35% 13 47% 3 11% 2 7% Tự đánh giá 28 8 29% 10 35% 7 25% 3 11% Bảng III: Kết quả khảo sát học sinh lớp 2 vào cuối kì 1 *Học sinh khối 3 Các năng Tổng Mức đô đánh giá lưc Số HS Rất tốt Tốt Bình thường Chưa tốt TS % TS % TS % TS % Tự quản 30 10 33% 14 47% 5 17% 1 3% Tự học 30 10 33% 16 44% 3 10% 1 3% Tự đánh giá 30 10 33% 14 47% 5 27% 1 3% Bảng IV : Kết quả khảo sát học sinh lớp 3 vào cuối kì 1 Nhìn vào kết quả trên và so sánh với kết quả đầu năm học ta thấy năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá của học sinh được nâng lên rõ rệt. Từ đó cho thấy hiệu quả dạy học cũng được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu của mô hình trường học mới. 2. Kiến nghị đề xuất Từ kết quả nghiên cứu đã đạt được, tôi xin nêu một số kiến nghị sau đây đối với công tác quản lí chuyên môn và nhà trường : -Cần tăng cường mở các chuyên đề nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo mô hình trường học mới. -Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học cho các lớp thực hiện theo mô hình VNEN. -Cần huy động giáo viên và học sinh tự làm đồ dùng dạy và trang trí lớp phù hợp với yêu cầu của mô hình trường học mới -Tổ chức các cuộc thi giao lưu giữa các lớp với nhau như: Cuộc thi chủ tịch hội đồng tự quản giỏi, thi em là nhóm trưởng giỏi, ...Để giúp học sinh giao lưu học hỏi lẫn nhau. 14 of 15 3/7/2025, 5:25 PM
  15. Sáng kiến kinh nghiệm - Thường xuyên thăm lớp dự giờ để có những góp ý bổ sung trực tiếp cho giáo viên giảng dạy. -Bố trí cho giáo viên đi dự giờ tham quan các mô hình trường học mới tiêu biểu trong tỉnh. 3. Kết luận Xã hội càng phát triển người ta càng quan tâm cũng như đòi hỏi nhiều ở giáo dục. Ngày nay, khi giáo dục đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, tham gia một cách quyết định vào việc cung ứng những con người có đủ phẩm có đủ phẩm chất và năng lực, kĩ năng để xây dựng và phát triển nền sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Trong đó giáo dục tiểu học có một vị trí hết sức quan trọng. Tiểu học là cấp học nền tảng. Ai đó đã ví rằng “Giáo viên tiểu học là người thợ đặt viên gạch đầu tiên để dựng nền móng của lâu đài giáo duc” - quả không sai. Đây là cái ngưỡng vô cùng quan trọng trong cuộc sống của trẻ suốt cuộc đời của một con người. Chính vì thế người giáo viên chủ nhiệm ở tiểu học là người có vị trí quan trọng cần nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình. Trên đây là những nghiên cứu tôi rút ra được từ trong thực tiễn giảng dạy của mình trong năm học này và mong muốn sẽ làm tốt hơn trong các năm học tới. Tuy là những kinh nghiệm đơn giản nhưng đã có tác dụng rõ rệt trong mỗi giờ học cũng như trong suy nghĩ của các em học sinh và thực sự có hiệu quả trong việc nâng cao năng lực tự quản, tự học và tự đánh giá cho học sinh lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới (VNEN). Từ đó nâng cao hiệu quả dạy học đáp ứng với tình thần đổi mới dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phù hợp với thực tiễn. Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài cũng như từ thực tiễn dạy học tôi đã cố gắng rất nhiều song do kinh nghiệm còn non trẻ cũng như trình độ bản thân còn hạn chế. Chính vì thế, những kinh nghiệm tôi đưa ra không khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp, để những kinh nghiệm đó thực sự có ý nghĩa đối với công tác dạy và học ở tiểu học. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tác giả:Nguyễn Thùy Anh 15 of 15 3/7/2025, 5:25 PM