Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 nâng cao năng lực giải Toán có lời văn - Nguyễn Thị Phượng
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 nâng cao năng lực giải Toán có lời văn - Nguyễn Thị Phượng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_4_n.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 nâng cao năng lực giải Toán có lời văn - Nguyễn Thị Phượng
- Sáng kiến kinh nghiêm Trường Tiểu học Thụ Lộc Thứ 6, 11/03/2016 | 13:17 Sáng kiến kinh nghiêm Đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 nâng cao năng lực giải toán có lời văn A. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Cơ sở lí luận 2. Cơ sở thực tiễn B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Nội dung chương trình, thực trạng việc dạy và học toán có lời văn hiện nay. II. Một số biện pháp giúp học sinh nâng cao năng lực giải toán có lời văn 1. Khảo sát học sinh ngay từ đầu năm, phân loại đối tượng học sinh để có biện pháp rèn kĩ năng giải toán có văn cho học sinh. Muốn học sinh giải toán có lời văn tốt, trước hết tôi tìm hiểu rõ tình trạng của học sinh mình như thế nào ? Học sinh yếu ở những mặt nào ? Mức độ yếu của học sinh ra sao ? Do đó, ngay đầu năm học, tôi tiến hành điều tra, khảo sát, đàm thoại với các em. Tôi đã nhận thấy ngoài một số em làm bài tốt, vẫn còn có em viết lời văn chưa thành thạo, một số em giải toán nhưng không hiểu rõ bản chất của bài toán nên dẫn tới những sai sót rất đáng tiếc : Sai lời giải bài toán, làm sai phép tính nên dẫn tới kết quả, đáp số sai. Một số học sinh không kiểm tra lại bài giải dẫn đến lời giải phép tính đúng nhưng kết quả sai. Qua bài Khảo sát chất lượng đầu năm, tôi nhận thấy chất lượng của học sinh về giải toán có lời văn chưa cao. Sau đây là kết quả khảo sát 24 học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm về giải toán có lời văn: TSHS Tóm tắt bài toán Chọn và thực hiện đúng Lời giải và đáp số 24 phép tính Đạt Chưa đạt Đúng Sai Đúng Sai Số lượng 11 13 16 8 13 11 Tỉ lệ 45,8 54,2 66,7 33,3 54,2 45,8 Từ đầu năm học 2014–2015, qua một thời gian thực tế giảng dạy và qua khảo sát, tôi nhận thấy kết quả học tập của các em chưa cao.. Nguyên nhân : *Chủ quan : + Đối với học sinh : - Nhận thức của HS chưa đồng đều. - Việc xác định đề toán của các em chưa thành thạo. -Một số em còn chủ quan, chưa đọc kĩ đầu bài. + Đối với giáo viên : 1 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm - Việc giảng dạy của GV đôi khi chưa phát huy hết được tính tích cực, chủ động sáng tạo của các em. - Trong quá trình tổ chức cho HS thực hành giải toán có những lúc chưa thật sự linh hoạt. *Khách quan : -Vốn Tiếng Việt của một số em còn hạn chế nên nhiều khi việc hiểu nghĩa của từ trong toán học đối với các em là rất khó, dẫn đến học sinh trả lời không chính xác. -Một số phụ huynh không quan tâm đến việc học hành của con cái, phó thác cho giáo viên. Đó là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hướng dẫn HS giải các bài toán ở dạng toán có lời văn. 2. Nắm chắc nội dung chương trình môn toán lớp 4. Môn Toán lớp 4 được Bộ GD & ĐT ban hành và quy định để thực hiện trong cả nước, mỗi tuần 5 tiết x 35 tuần = 175 tiết. Chương trình giải toán có lời văn ở lớp 4 được chú trọng vào các dạng điển hình sau : + Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó. + Tìm số trung bình cộng. + Tìm phân số của một số. + Tìm 2 số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của 2 số đó. + Giải bài toán về đại lượng tỉ lệ, hình học. Các dạng toán được bố trí đan xen với các bài toán về số học, vì thế tôi phải nắm chắc chương trình để nghiên cứu SGK, SGV, tài liệu tham khảo nhằm xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp với đối tượng HS để lên lớp đạt được hiệu quả cao. 3. Hướng dẫn học sinh các bước giải: 3.1 Hướng dẫn học sinh đọc đề toán: Đọc đề toán để hiểu đề và điều quan trọng mà giáo viên cần hướng dẫn học sinh khi đọc đề là khi đọc phải xác định được cái mà đề bài đã cho, cái mà đề bài yêu cầu phải tìm, phải tính ... Có thể nói đây là bước rất quan trọng gúp phần vào sự thành công trong việc giải toán của học sinh. Với những bài toán quá phức tạp, giáo viên cần hướng dẫn để học sinh xác định được yêu cầu của đề, nắm bắt được mấu chốt trong yêu cầu của bài toán. Tránh tình trạng học sinh vừa đọc xong đề đó vội vã bắt tay vào giải ngay. Phải tập cho học sinh có thói quen tự tìm hiểu đề toán qua việc phân tích những điều đã cho và xác định được những điều phải tìm. Để làm đựơc điều đó, cần hướng sự tập trung suy nghĩ của học sinh vào những từ quan trọng của đề toán, từ nào chưa hểu hết ý nghĩa thì phải tìm hiểu hết ý nghĩa của từ đó. Khi đọc đề xong có thể gạch chân các từ ngữ quan trọng trong đề bài . Các từ ngữ đó là sẽ là cơ sở quan trọng để tìm ra cách giải bài toán. 3.2. Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán: Việc tóm tắt đề toán sẽ giúp học sinh tự thiết lập đựơc mối liên hệ giữa những cái đã cho và những cái phải tìm. Học sinh tự tóm tắt được đề toán nghĩa là nắm được yêu cầu cơ bản của bài toán. Việc tóm tắt đề toán có thể thực hiện bằng sơ đồ, bằng hình vẽ, hoặc ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn. Khi tóm tắt đề cần gạt bỏ tất cả những gì là thứ yếu, lặt vặt trong đề toán và hướng sự tập trung của học sinh vào những điểm chính yếu của bài toán, tìm cách biểu thị một cách cô đọng nhất nội dung bài toán. Sau đây là một số cách tóm tắt đề toán thông dụng: 3.2.1. Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng: 2 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm Đây là cách tóm tắt đề thường được sử dụng nhất khi giải toán có lời văn ở tiểu học. Cách tóm tắt này giúp học sinh dễ hiểu đề hơn và biết cách giải bài toán. Muốn rèn luyện tốt cho học sinh kĩ năng tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng cần làm quen với cách biểu thị một số quan hệ sau: + Các phép tính: + Quan hệ " lớn hơn hay kém hơn một số đơn vị". Ví dụ: Số b lớn hơn a 45 đơn vị; Số a lớn hơn b 72 đơn vị. + Quan hệ "gấp hay kém một số lần". VD: a = 1/3 b hay b gấp 3 lần a. + Biểu thị tổng của hai số: VD: Tổng của số a và b là 120. + Biểu thị hiệu của 2 số: VD: Hiệu hai số a và b là 15: Trong thực tế giải toán có lời văn có nhiều bài toán không chỉ đơn giản chỉ có một quan hệ mà có nhiều bài có nhiều quan hệ khác nhau nên khi tóm tắt cũng cần thể hiện đầy đủ các quan hệ đó. Ví dụ: Hai số có tổng bằng 216 và thương bằng 1/2. Tìm hai số đó? Bài này ta có thể tóm tắt như sau: vì thương hai số = 1/2 nên số lớn gấp hai lần số bé và tổng của chúng là 216.( thể hiện cả quan hệ tỉ số và tổng). * Việc tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng rất phù hợp với học sinh tiểu học. Tóm tắt không chỉ phục vụ cho việc tìm hiểu đề bài mà đôi khi tóm tắt cũng là nội dung các bước giải của bài toán. Chẳng hạn dạng toán tìm hai số biết tổng và hiệu, tìm hai số biết tổng (hiệu) và tỉ số... thì bước vẽ sơ đồ đoạn thẳng cũng là một bước giải bài toán đó. Hay khi giải các bài toán suy luận logic thì vẽ sơ đồ cũng là một cách giải hữu hiệu. Ví dụ : Bài toán: Tìm ba số lẻ liên tiếp có tổng là 111. Với bài toán này học sinh không áp dụng cách tính trong sách giáo khoa toán được vì đây là bài toán tổng của ba số. Ta có thể dùng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt và giải bài toán theo sơ đồ: Vì học sinh đã biết hai số lẻ liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị nên ta có thể tóm tắt bài toán như sau: +Số lẻ thứ nhất: +Số lẻ thứ hai +Số lẻ thứ b Nhìn vào sơ đồ tóm tắt bào toán học sinh sẽ nêu được bài toán hiểu được các dữ kiện đầu bài toán cho. - Bài toán hỏi gì ? Tìm 3 số lẻ đó. - Muốn tìm được ba số lẻ ta phải làm thế nào? (Nhìn vào sơ đồ gợi cho ta tìm được số lẻ thứ nhất sau đó tìm số lẻ thứ hai, thứ ba). 3.2.2. Tóm tắt đề toán bằng hình vẽ: Thường hay áp dụng với các bài toán hình học. Ví dụ: Người ta làm lối đi xung quanh một cái hồ hình chữ nhật có chiều dài 56 m, chiều rộng 20 m. Tính diện tích lối đi biết chiều rộng của lối đi là 4m. Bài toán được thể hiện bằn hình vẽ sau: 3 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm 3.2.4. Tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn: Đây là cách viết tắt các ý chính, chủ yếu của đề toán, phối hợp với việc dùng một số dấu, kí hiệu mũi tên, dấu gạch ngang để biểu thị cái đã cho và cái phải tìm. Ví dụ: Bài toán : Một chiếc xe ôtô cứ đi 100 km thì tiêu thụ hết 15 lít xăng. Hỏi đi 240 km thì tiêu thụ hết bao nhiêu lít xăng? Tóm tắt: 100 km : 15 lít 240 km: ... lít? 3.2.5.Tóm tắt bài toán bằng các công thức bằng lời: Trong cách tóm tắt này, người ta thường viết tắt các giá trị của một số lượng các từ, chữ rồi ghi lại các dữ kiện của bài toán thành các phép tính cộng trừ, nhân, chia với những từ, chữ ấy. Ví dụ: Bài toán: Một người bán hàng lần đầu bán 5 quả táo và 6 quả cam giá 7500 đồng; lần thứ hai bán 2 quả cam và 3 quả táo hết 3000 đồng. Tính giá tiền mỗi quả? Với dạng này thì ta có thể tóm tắt như sau: 5 táo , 6 cam :7500 đồng 2 táo , 3 cam : 3000 đồng 1 táo : .. đồng? 1 cam : ... đồng? Tóm tắt như vậy để hướng học sinh giải theo phương pháp khử hoặc thế. 3.3. Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán để tìm cách giải: Đây là khâu then chốt nhất trong quá trình giải toán của học sinh. Trên cơ sở đã xác định được yêu cầu của đề toán, việc đi tìm con đường tính toán được thực hiện qua việc phân tích những cái đã có, cái cần tìm trong đề bài. Có thể hướng dẫn học sinh tiến hành điều này theo các cách như sau: 3.3.1. Suy nghĩ theo đưòng lối phân tích: Đây là cách suy ngược từ câu hỏi của bài toán. Cần suy nghĩ xem : Muốn trả lời được câu hỏi của bài toán cần phải biết những gì, cần phải làm những phép tính gì? Trong những điều ấy cái gì đã biết, cái gì chưa biết? muốn tìm cái chưa biết ấy thì phải biết những gì, phải làm tính gì?...cứ như thế ta dần tới những điều dã cho trong đề toán. Đây là cách thực hiện phổ biến nhất với học sinh tiểu học hiện nay. Ví dụ: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi là 120 m. Chiều dài hơn chiều rộng 10 m. Tính diện tích mảnh đất. Yêu cầu của bài toán là gì? ( tính diện tích mảnh đất); Muốn tính diện tích mảnh đất ta phải biết gì? ( chiều dài và chiều rộng); Ta đã biết gì về chiều dài và chiều rộng? ( dài hơn rộng 10 m)? Từ chu vi ta tìm được gì? (nửa chu vi hay tổng chiều dài và chiều rộng); Vậy ta có tìm được chiều dài và chiều rộng không? (được, bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu). Như vậy ta đã có hướng giải bài toán. 4 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm 3.3.2. Suy nghĩ theo đường lối tổng hợp: Cũng có thể suy nghĩ xem từ các điều đã cho trong bài toán ta có thể suy ra điều gì, tính ngay đựơc cái gì? ...cứ như thế ta suy dần từ những điều đã cho đến câu hỏi của bài toán. Kiểu suy luận này thường đựơc dùng trong những bài toán không khó lắm. Ví dụ: Hai số có trung bình cộng là 125 và hiệu của chúng là 32. Tìm số lớn? Bài toán cho biết gì? (trung bình cộng hai số); Biết trung bình cộng ta sẽ tính được gì? ( tổng hai số); Bài toán còn cho biết gì nữa? ( hiệu hai số là 32); Vậy ta đưa bài toán về dạng nào đã học? (tìm hai số biết tổng và hiệu)? 3.3.3. Suy nghĩ theo cách kết hợp giữa đường lối tổng hợp và phân tích: Ví dụ : Bài toán : Một người đi xe đạp trong 3 giờ. Giờ thứ nhất đi được 12 km, giờ thứ hai đi được 18 km, giờ thứ ba đi được bằng nửa quãng đường của hai giờ đầu. Hỏi trung bình mỗi giờ người đó đi được bao nhiêu km? Ta có thể suy nghĩ bài toán này theo hướng: Bài toán yêu cầu gì? (tìm trung bình mỗi giờ đi được bao nhiêu km). Muốn tìm được trung bình mỗi giờ người đó đi được bao nhiêu km ta phải tìm gì? (phải tìm được giờ thứ ba người đó đi được bao nhiêu km). Bài toán cho biết gì? (quãng đường người đó đi trong giờ thứ nhất và giờ thứ hai). Quãng đường đi trong giờ thứ ba biết chưa? (chưa). Vậy ta phải tìm gì? (Quãng đường đi trong giờ thứ ba). Như vậy là ta thấy hai quá trình suy nghĩ gặp nhau ở chỗ đều phải tìm quãng đường người đó đi trong giờ thứ ba. Và đó cũng là bước then chốt để giải bài toán này. 3.4. Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải và thử lại kết quả: Khi đã tiến hành các bước trên bây giờ là lúc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải một cách đầy đủ. Đây là bước khá quan trọng vì nó rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày bài toán một cách khoa học từ các câu lời giải và các phép tính. Ở bước này cần lưu ý học sinh các câu lời giải phải ngắn gọn, đủ ý và phù hợp với phép tính. Sau khi giải xong cần kiểm tra lại bài bằng cách thử lại bài toán. Có thể thử lại bài toán bằng các cách như: - Thử lại bằng phương pháp giải theo cách khác. Nếu như bài toán còn cách giải khác thì yêu cầu học sinh giải lại và so sánh với kết quả của cách giải vừa trình bày. - Thử lại bằng cách tính ngược.Thường áp dụng với những bài toán suy luận logic. - Thử lại bằng cách thay đáp số vào đầu bài để tính lại xem có phù hợp hay không. - Ngoài các cách trên còn có nhiều cách thử lại khác như: Xem kết quả có phù hợp với thực tế không, so sánh với các bài toán tương tự... Việc hình thành thói quen thử lại bài sau khi giải là hết sức quan trọng nhất là khi giải các bài toán khó và có nhiều bước giải. Bên cạnh đó cũng rèn cho học sinh tính cẩn thận khi làm bài. Tóm lại, với toán có lời văn thì thông thường học sinh phải qua các bước sau: Bước 1: Đọc thật kĩ đề toán, xác định đâu là cái đó cho, đâu là cái phải tìm . Bước 2: Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc bằng ngôn ngữ kí hiệu ngắn gọn. Thông qua đó dể thiết lập mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm. 5 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm Bước 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải. Kết quả của bước này là xác định một trình tự để giải toán. Bước 4 : Lần lượt thực hiện các phép tính theo trình tự giải đó Có để đi tới đáp số cần thử lại sau mỗi phép tính và đáp số để tự kiểm tra xem mình đã chắc đúng chưa, sau đó viết cẩn thận bài giải vào vở. Trong tất cả các bước trên, hầu hết các hoạt động đều được làm trên giấy nháp hoặc nghĩ thầm trong đầu, chỉ riêng việc tóm tắt (nếu cần) và viết bài giải là học sinh phải làm vào bài tập mà thôi. Tuy nhiên, xác định cụ thể những bước đi cơ bản cho việc giải toán như vậy, nhưng không hẳn trong giải toán, lúc nào học sinh cũng phải tuân theo đầy đủ các bước như trên. Các em có thể lướt qua những bước mà các em đã nhuần nhuyễn với những bài toán đơn giản để rút ngắn thời gian giải toán. Song, nếu nắm vững các bước giải toán như vậy, học sinh sẽ dễ dàng tiếp cận với nhiều dạng toán giải khác nhau, giúp phát triển tư duy và bồi dưỡng khả năng giải toán ở các em. Ngoài ra với đối tượng học sinh khá giỏi chúng ta không chỉ dừng lại ở đó mà cần hướng dẫn học sinh khai thác triệt để bài toán giúp các em nắm bài một cách sâu sắc và từ bài toán đó các em rút ra được kinh nghiệm cũng như phương pháp giải một dạng toán cụ thể nào đó. Chẳng hạn khuyến khích các em tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án giải toán tốt nhất, làm thế nào để sau khi làm xong bài toán học sinh luôn tự đặt câu hỏi: cũng có thể giải bài toán bằng cách nào khác không? từ bài toán có thể rút ra nhận xét gì? từ bài toán có thể rút ra kinh nghiệm gì? từ bài toán này có thể đặt ra được những bài toán nào? Có những cách giải nào?... Ở đây, giáo viên có thể gợi ý cho học sinh khai thác bài toán bằng nhiều cách khác nhau như: Giải bài toán bằng phương pháp tính gộp; Tìm nhiều cách giải khác nhau cho cùng bài toán ; Tự đặt bài toán mới tương tự bài toán đã cho; Tự nhận xét và rút kinh nghiệm sau khi giải toán. Phải tập cho các em thói quen không tự bằng lòng dừng lại khi giải được đóng đáp số của bài toán, mà phải biết tự giác thực hiện thêm một bước nữa là khai thác bài toán. Đây là một cách rất tốt để học sinh tự rèn luyện cho mình năng lực suy nghĩ độc lập và linh hoạt, trí thông minh và óc sáng tạo... Ví dụ: Bài toán: Hai vòi nước cùng bắt đầu chảy vào bế. Vòi thứ nhất mỗi phút chảy được 25l nước. Vòi thứ hai mỗi phút chảy được 15l nước. Hỏi sau 1 giờ 15 phút cả hai vòi đó chảy vào bể được bao nhiêu nước? Bài giải Đổi 1 giờ 15 phút = 75 phút Vòi thứ nhất chảy vào bể được số lít nước là: 25 x 75 =1875 (lít) Vòi thứ hai chảy vào bể được số lí nước là: 15 x 75 = 1125 (lít) Cả hai vòi chảy vào bể được số lít nước là: 1875 + 1225 = 3000 (lít) Đáp số: 3000 lít Sau khi học sinh giải xong bài toán học sinh có thể tìm cách giải khác để giải bài toán ngắn gọn hơn: Bài giải Đổi 1 giờ 15 phút = 75 phút 6 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm 1 phút cả hai vòi chảy vào bể được số lít nước là: 25 + 15 = 40 (lít) 1 giờ 15 phút cả hai vòi chảy vào bể số lít nước là: 40 x 75 = 3000 (lít) Đáp số: 3000 lít 3.5. Tìm những cách giải khác: Từ bài toán đã giải yêu cầu HS tìm cách giải khác. Điều này giúp HS hiểu bài toán một cách chắc chắn hơn và khắc sâu được cách giải dạng toán đó. Ngoài ra còn rèn cho học sinh ý thức tự giác, độc lập trong khi học toán và tinh thần ham học. Ví dụ: Bài toán: Một cửa hàng bán trứng có 40 giá để trứng, mỗi giá để trứng có 175 quả trứng. Cửa hàng đã bán hết 10 giá trứng. Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu quả trứng? Với bài toán này học sinh có thể giải bằng nhiều cách: Cách 1: Bài giải Số quả trứng cửa hàng có là: 40 x 175 = 7000 (quả) Số quả trứng cửa hàng đã bán là: 10 x 175 = 1750 (quả) Số quả trứng cửa hàng còn lại là: 7000 – 1750 = 5250 (quả) Đáp số: 5250 quả trứng Cách 2: Bài giải Số giá trứng cửa hàng còn lại là: 40 – 10 = 30 (giá) Số quả trứng cửa hàng còn lại là: 30 x 1750 = 5250 (quả) Đáp số: 5250 quả trứng Cách 3: Bài giải Số quả trứng cửa hàng còn lại là: (40 – 10) x 175 = 5250 (quả) Đáp số: 5250 quả trứng 3.6.. Đặt các đề toán mới tương tự các đề toán đã giải : Có nhiều cách đặt một đề toán mới tương tự như đề toán đã cho như: - Thay số liệu bài toán. Có thể tăng hoặc giảm số liệu của bài toán nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu của bài toán. - Thay đổi các đối tượng bài toán. Chẳng hạn có thể thay hình chữ nhật bằng hình bình hành, hình vuông bằng hình thoi, ... - Thay đổi cả đối tượng lẫn số liệu. - Thay đổi các từ chỉ quan hệ trong bài toán. -Tăng số đối tượng trong bài toán. - Thay câu hỏi đó cho bằng nột câu hỏi khá hơn. 3.7. Tự đặt các bài toán ngược lại với bài toán đã giải: Việc đặt đề toán tương tự sẽ giúp HS luyện tập, củng cố được dạng toán vừa học bên cạnh đó giúp các em linh hoạt hơn trong giải toán có lời văn. Cũng bài toán đó nhưng thay đổi yêu cầu hay bắt tìm các yếu tố khác với đề bài cũ. * Ví dụ minh hoạ cho các bước trên: Bài toán: Cho hình chữ nhật ABCD có chiều dài 12 cm. Nếu tăng chiều dài thêm 4 7 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm cm và giữ nguyên chiều rộng thì diện tích tăng thêm 24 cm2. Tính diện tích hình chữ nhật ABCD. Bước 1: Đọc đề, xác định yếu tố đã cho và yêu cầu của bài: Bài toán cho biết: Hình chữ nhật ABCD có chiều dài 12 cm. Tăng chiều dài thêm 4 cm, giữ nguyên chiều rộng thì diện tích tăng thêm 24 cm2. Bài toán yêu cầu: Tính diện tích hình chữ nhật ABCD. Bước 2: Tóm tắt bài toán (bằng hình vẽ): Bước 3: Phân tích đề tìm cách giải. Có thể phân tích theo lối phân tích: - Bài toán yêu cầu gì? ( tính diện tích hình chữ nhật ABCD). - Muốn tính diện tích hình chữ nhật ABCD ta cần biết những gì? ( Chiều dài và chiều rộng). - Chiều dài biết chưa ? (rồi: 12cm) ; Vậy cần tính gì nữa ? (chiều rộng). - Chiều rộng hình chữ nhật ABCD tính được ngay chưa? (chưa); Đã biết diện tích nào? (diện tích hình chữ nhật BMNC); Chiều rộng BM biết chưa?(rồi 4cm); Vậy có tính được chiều dài của hình chữ nhật BMNC không? (được: 24 : 4); Chiều dài hình chữ nhật BMNC so với chiều rộng hình chữ nhật ABCD như thế nào? ( Bằng nhau, trùng nhau). Vậy có tìm được chiều rộng hình chữ nhật ABCD không? ( có: 24 : 4) - Như vậy là đã tìm ra cách giải bài toán. Bước 4: Giải bài toán và thử lại kết quả: Bài giải: Chiều dài hcn BMNC hay chiều rộng hcn ABCD là: 24 : 4 = 6 ( cm) Diện tích hình chữ nhật ABCD là: 12 x 6 = 72 (cm2 ) Đáp số: 72 cm2 . *Đối với học sinh khá giỏi có thể hướng dẫn học sinh khai thác bài toán này bằng cách khác như sau: - Nhận xét gì về chiều dài AB và chiều rộng BM của hình chữ nhật BMNC? (Gấp 3 lần: 12 : 4 = 3). - Nhận xét gì về chiều rộng của hcn ABCD và chiều dài của hcn BMNC? (Bằng nhau). -Vậy ta có thể suy ra điều gì về diên tích của hai hình chữ nhật này? (Diện tích ABCD gấp 3 lần BNMC) - Tinh diện tích hcn ABCD bằng cách nào? ( 24 x 3 = 72 cm2). Đây cũng có thể xem là một cách thử lại bài toán trên. Để tiếp tục khắc sâu cho học sinh về bài toán có thể đặt một đề toán tương tự cho học sinh giải. Có thể chỉ thay đổi số liệu của bài cũng có thể thay đổi đối tượng của bài( Thay hình chữ nhật bằng hình vuông). Cũng có thể thay đổi cách hỏi: Ví dụ: Cho hình chữ nhật ABCD có chiều dài 12 cm. Nếu tăng chiều dài thêm 4 8 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm cm thì được hình chữ nhật mới. Tính diện tích hình chữ nhật mới biết diện tích tăng thêm là 24 cm2 . Và cuối cùng là đặt đề toán ngược lại với bài đã giải để học sinh giải: Cho hình chữ nhật ABCD có diện tích là 72 cm2, chiều dài 12cm. Hỏi phải tăng chiều dài thêm bao nhiêu xăng-ti-mét và giữ nguyên chiều rộng để được hình chữ nhật mới có diện tích là 96 cm2? 4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Tôi luôn coi trọng việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì về kết quả học tập của HS để nắm bắt kịp thời việc vận dụng, rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho các em. Từ đó phân loại HS theo trình độ để tự điều chỉnh về mục tiêu đối với từng bài dạy cụ thể cho phù hợp với các nhóm đối tượng HS lớp tôi phụ trách. Bên cạnh công tác kiểm tra, đánh giá HS tôi tự điều chỉnh về hình thức tổ chức dạy học, điều chỉnh về phương pháp dạy học sao cho kết quả các tiết dạy đạt được mục tiêu đã đề ra. Tôi luôn quan tâm, giúp đỡ những em HS có kết quả học tập môn Toán nói chung và giải toán có lời văn đạt kết quả chưa cao nói riêng để các em có hướng vươn lên. Sau khi dạy xong mỗi dạng toán, tôi tự ra đề khảo sát chất lượng học sinh để kiểm tra xem các em tiếp thu kiến thức vừa học như thế nào ? III. Kết quả khảo sát sau khi thực hiện sáng kiến TSHS Tóm tắt bài toán Chọn và thực hiện đúng Lời giải và đáp số 24 phép tính Đạt Chưa đạt Đúng Sai Đúng Sai Số lượng 20 4 21 3 21 3 Tỉ lệ 83% 17% 87,5% 12,5% 87,5% 12,5% Sau khi áp dụng các biện pháp trên vào quá trình học toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng tôi thấy: Khi gặp các bài toán có lời văn đa số học sinh đã có kĩ năng làm bài, các em không bắt tay vào giải luôn như trước đây mà đã đọc kĩ, phân tích đề, tóm tắt bài toán và sau đó mới bắt tay vào làm bài giải. Phần lớn học sinh đã viết được lời giải và chọn được phép tính đúng. Các em học sinh khá giỏi ngoài giải bài toán theo yêu cầu đã tìm ra được cách giải khác nhanh hơn, tìm hiểu và đặt được các bài toán tương tự hoặc là bài toán ngược với bài toán đã cho. Tuy nhiên phần thử lại kết quả một số em vẫn còn quên nên mặc dù các em đã hiểu bài toán hướng giải đúng nhưng sai kết quả mà các em không phát hiện ra. C. KẾT LUẬN 1. Kết luận chung 2. Kiến nghị: 2. 1. Với nhà trường: Thường xuyên có những buổi sinh hoạt chuyên môn bàn về cách dạy, cách học các dạng toán tiểu học, nhất là toán có lời văn để giáo viên và học sinh có nhiều cơ hội tiếp xúc để được học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn toán nói chung và các dạng toán hay, toán khó nói riêng. 2.2. Với Phòng giáo dục và các cấp quản lí: Ngoài các chuyên đề về đổi mới phương pháp, ngoài thi giáo viên giỏi, Phòng giáo dục cũng có thể tổ chức các chuyên đề giải toán để giáo viên trong huyện có thể học tập được kinh nghiệm. Vấn đề giải toán có lời văn là vấn đề rất rộng mà trong phạm vi hạn hẹp của sáng kiến kinh nghiệm không thể nói hết được. Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm nhỏ 9 of 10 3/8/2025, 8:17 AM
- Sáng kiến kinh nghiêm mà trong quá trình giảng dạy bản thân đã rút ra được. Chắc chắn còn nhiều sai sót, rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp và các cấp quản lí. Thụ Lộc, ngày 12 tháng 4 năm 2015 Tác giả:Nguyễn Thị Phượng 10 of 10 3/8/2025, 8:17 AM

