Đề cương ôn tập Covid 19 môn Ngữ văn 9

docx 51 trang Khải Bình 06/05/2026 1850
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập Covid 19 môn Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxde_cuong_on_tap_covid_19_mon_ngu_van_9.docx

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập Covid 19 môn Ngữ văn 9

  1. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 9 (Dành cho cho học sinh trong thời gian nghỉ học do dịch cúm Covid-19) A. PHẦN TIẾNG VIỆT: * KIẾN THỨC LÝ THUYẾT: I. Các phương châm hội thoại: 1. Phương châm về lượng: Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của lời nói phải đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiêu, không thừa. 2. Phương châm về chất: Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực. 3. Phương châm cách thức: Khi giao tiếp, cần nói ngắn gọn, rành mạch; tránh nói mơ hồ. 4. Phương châm quan hệ: Khi giao tiếp, cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề. 5. Phương châm lịch sự: Khi giao tiếp, cần tế nhị và tôn trọng người khác. II. Sự phát triển của từ vựng. 1. Phát triển về nghĩa của từ: - Thêm nghĩa cho từ - Chuyển nghĩa trên cơ sở nghĩa gốc (có 2 phương thức chuyển nghĩa: chuyển nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ) 2. Phát triển số lượng từ: - Tạo từ mới - Mượn từ III. Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp 1. Cách dẫn trực tiếp: Thuật lại nguyên văn lời nói hay ý nghũa của người, nhân vật. Lời dẫn trực tiếp được đặt trong dấu ngoặc kép 2. Cách dẫn gián tiếp: Thuật lại lời nói, ý nghĩ của người, nhân vật có điều chỉnh cho phù hợp. Lời dẫn gián tiếp không đặt trong dấu ngoặc kép. IV. Tổng kết từ vựng (SGK Ngữ văn 9 tập I trang 158-> 159).
  2. * BÀI TẬP VẬN DỤNG: 1. Những câu sau liên quan đến phương châm hội thoại nào? Hãy giải thích tại sao có thể khẳng định như vậy? - Dây cà ra dây muống - Lời chào cao hơn mâm cỗ - Nói có sách, mách có chứng - Ông nói gà, bà nói vịt 2. Xác định và phân tích giá trị của các biện pháp tu từ trong các trường hợp sau : a) Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật “Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim”.. b) Truyện Kiều – Nguyễn Du “Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”. c) Truyện Kiều – Nguyễn Du “Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”. d) Bếp lửa – Bằng Việt “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!” 3. Tìm các từ Hán Việt có trong đoạn thơ sau, giải nghĩa các từ đó: Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
  3. Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười. (Trích “Truyện Kiều”– Nguyễn Du) 4. Dẫn câu nói sau theo 2 cách (trực tiếp và gián tiếp: “Học, học nữa, học mãi” (V.I.Lê nin) 5. Xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển và phương thức chuyển nghĩa của những từ gạch chân trong các trường hợp sau: a) Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ thay lời nước non. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) b) Được lời như cởi tấm lòng, Gởi kim thoa với khăn hồng trao tay. Cũng nhà hành viện xưa nay, Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) c) Đề huề lưng túi gió trăng, Sau chân theo một vài thằng con con. Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) ************************************************************** B. PHẦN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI: I. Định hướng cách viết một bài văn Nghị luận xã hội - Phải đảm bảo 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài 1. Mở bài: * Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận:
  4. 2. Thân bài: Đối với dạng đề bàn về một tư tưởng, đạo lý tình cảm: dàn ý có thể xây dựng như sau: * Nêu khái quát về tư tưởng, đạo lý tình cảm đó; hoặc giải thích (đối với đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ): (Nếu đề đã rõ nội dung cần nghị luận thì nêu khái quát. Nếu đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ nội dung thì giải thích gọn rõ, đi từ khái niệm, các từ khóa quan trọng đến giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng để rút ra vấn đề cần nghị luận). * Bàn bạc, làm sáng tỏ vấn đề; liên hệ, mở rộng vấn đề: - Nêu biểu hiện cụ thể của tư tưởng đạo lý tình cảm đó - Nêu tác dụng, ý nghĩa của tư tưởng đạo lý, tình cảm (Đặt và trả lời câu hỏi : Vấn đề ấy cần thiết, quan trọng thế nào ? Nếu không có tư tưởng đạo lý tình cảm đó thì con người, xã hội sẽ ra sao? Có dẫn chứng minh họa cho vấn đề ) - Liên hệ với một số câu danh ngôn, ca dao liên quan đến vấn đề đang bàn - Lật ngược vấn đề. - Phản biện vấn đề (có phải lúc nào cũng đúng không ? cần chú trọng thêm điều gì ?) * Bài học nhận thức, hành động: (có thể lồng vào trong quá trình viết ở thân bài, cũng có thể đưa vào phần kết bài) Đối với dạng đề bàn về một hiện tượng xã hội: dàn ý có thể xây dựng như sau: * Nêu khái quát về hiện tượng xã hội đó; hoặc giải thích (đối với đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ): Nếu đề đã rõ nội dung cần nghị luận thì nêu khái quát. Nếu đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ nội dung thì GV hướng dẫn học sinh giải thích gọn rõ, đi từ khái niệm, các từ khóa quan trọng đến giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng để rút ra vấn đề cần nghị luận. * Nêu biểu hiện cụ thể của hiện tượng xã hội đó: (minh họa bằng dẫn chứng) * Nêu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xã hội đó:
  5. * Tác hại, hậu quả của hiện tượng xã hội đó (đối với hiện tượng tiêu cực); ý nghĩa, tác dụng (đối với hiện tượng tích cực”: * Lật ngược vấn đề (nếu sự việc đang bàn mang tính một chiều) * Bài học nhận thức, hành động: (có thể lồng vào trong quá trình viết ở thân bài, cũng có thể đưa vào phần kết bài) + Nếu là hiện tượng tích cực: - Bản thân đồng tình ủng hộ hiện tượng tích cực trên, tuyên truyền cho bạn bè, người thân học tập. - Luôn học hỏi để rèn luyện bản thân từ đó biết sống đẹp sống có ích, biết bắt đầu từ những việc làm giản dị nhất, có ý nghĩa nhất. + Nếu là hiện tượng tiêu cực: - Kịch liệt phản đối hiện tượng tiêu cực trên, tuyên truyền cho bạn bè người thân tránh xa, quay lưng, tẩy chay với nó. - Góp phần đấu tranh, ngăn chặn sự ảnh hưởng nguy hại của hiện tượng tiêu cực đó, biết bắt đầu từ những việc làm giản dị nhất, có ý nghĩa nhất. 3. Kết bài: - Khái quát lại vấn đề II. Tham khảo hướng dẫn chấm HDC câu 2 trong Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 NH 2019-2020 của Sở GD&ĐT Hà Tĩnh. Nội dung Điể m Suy nghĩ của em về bài học ứng xử trong cuộc sống được gợi lên từ câu tục 3.0 ngữ “Một sự nhịn, chín sự lành”. a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận; đúng kiểu bài nghị luận về 0.25 một vấn đề tư tưởng, đạo lý. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: bàn về bài học ứng xử trong cuộc sống 0.25 được gợi lên từ câu tục ngữ “Một sự nhịn, chín sự lành” – bài học về sự nhẫn nhịn. c. Triển khai bài viết mạch lạc, tự nhiên, hợp lý, kết hợp lý lẽ và dẫn chứng. 2.0
  6. Có nhiều cách triển khai vấn đề. Đây là một hướng tham khảo để đánh giá:: - Giới thiệu vấn đề: bài học ứng xử từ câu “Một sự nhịn, chín sự lành”. 0.25 - Giải thích: 0.25 +“Nhịn” là nhẫn nhịn, nhường nhịn. “Lành” là bình yên, hài hòa, là điều tốt đẹp. Hai vế câu tục ngữ có quan hệ nhân - quả. Có thể hiểu: “nhịn” để có được “lành”, muốn “lành” thì cần biết “nhịn”. + Các số từ (một, chín) nhấn mạnh lợi ích to lớn của sự nhẫn nhịn. Câu tục ngữ khuyên nhủ mọi người cần biết nhẫn nhịn, nhường nhịn, cư xử đúng mực trong giao tiếp bởi vì chỉ “một sự nhịn” có thể đem lại đến “chín sự lành”, một chút nhẫn nhịn sẽ giữ được, có được rất nhiều điều tốt đẹp cho cuộc sống. Đây là bài học ứng xử rất sâu sắc. - Bàn bạc, làm sáng tỏ vấn đề: 0,5 + Ứng xử đúng mực, biết nhẫn nhịn sẽ khiến mỗi cá nhân và cả xã hội có được nhiều điều tốt đẹp. Khi có hiểu lầm, người biết “nhịn” sẽ kiềm chế được cảm xúc, điều chỉnh suy nghĩ, làm chủ hành vi để hóa giải, xoa dịu và giải quyết các mâu thuẫn một cách êm đẹp khiến các bên hiểu nhau, tôn trọng, thông cảm chia sẻ, tin cậy và gắn bó hơn. Với mâu thuẫn gay gắt, biết kiềm chế để dịu bớt căng thẳng, lựa thời điểm hợp lý để hóa giải, mọi chuyện sẽ trở lại bình thường. Cách ứng xử ấy sẽ hạn chế bạo lực, ngăn ngừa cái xấu, góp phần làm cho xã hội ngày càng lành mạnh. + Ngược lại, nếu bức xúc, nổi nóng, tinh thần lấn át lý trí sẽ dẫn đến lời nói, hành vi sai trái, gây ra những hậu quả đáng tiếc. Tuổi học trò dễ nảy sinh những mâu thuẫn, hiểu lầm dẫn đến xung đột làm rạn nứt tình cảm, tác động xấu đến tinh thần và thể chất của nhau. Hiện tượng bạo lực học đường (xúc phạm, đánh nhau gây hậu quả nghiêm trọng) thời gian qua nói lên điều đó. Thiếu kiềm chế, nông nổi, không biết “nhịn” đúng lúc thường không có cơ hội hối hận, sửa chữa sai lầm. Lời khuyên “Một sự nhịn, chín sự lành” càng trở nên cần thiết để ta tránh những điều như vậy! - Liên hệ, mở rộng vấn đề: 0.25 + Đề cao giá trị của nhẫn nhịn trong ứng xử, cha ông ta có những lời khuyên tương tự: “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, “Sa chân với lại, sa miệng với không lại”, Phong trào “Nói lời hay, làm việc tốt” trong học sinh cũng nhằm rèn cho chúng ta đức tính nhẫn nhịn nói trên. + Tuy nhiên, không phải lúc nào “sự nhịn” cũng sẽ đem lại “sự lành”. Có lẽ
  7. cũng bởi vậy mà cha ông ta dùng số từ “chín” (với hàm ý: nhiều, hầu hết) chứ không phải “mười”(với hàm ý: tất cả, trọn vẹn). Nhân vật chị Dậu trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”(Ngô Tất Tố) đã “nhịn” và biết phản kháng đúng lúc. Trong lịch sử, khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta năm 1946, Bác Hồ đã ra chỉ rõ “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới,( ). Chúng ta phải đứng lên! ”. Khi cần, phải đấu tranh để bảo vệ danh dự, lẽ phải, quyền lợi chính đáng. - Bài học nhận thức và hành động: 0.5 + Rèn tính nhẫn nhịn, biết lắng nghe, chia sẻ, làm chủ cảm xúc để luôn ứng xử theo hướng tích cực; suy nghĩ chín chắn trước khi hành động. + Phê phán, loại bỏ tính nông nổi, dễ nổi nóng, hành động theo cảm tính nhất thời, thích “chuyện bé xé ra to”, + Biết vận dụng bài học ứng xử ấy một cách linh hoạt; đấu tranh khẳng định giá trị, đòi lẽ phải, công bằng cho bản thân và cộng đồng; góp phần cùng mọi người tạo nên xã hội lành mạnh, tôn trọng, quan tâm chia sẻ. Khẳng định vấn đề nghị luận. 0.25 d. Sáng tạo: khuyến khích những bài viết có cách diễn đạt độc đáo, có sự 0.25 khám phá trong triển khai giải quyết vấn đề. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa 0.25 tiếng Việt. III. Đề luyện tập: 1. Suy nghĩ của em về văn hóa giao tiếp của học sinh hiện nay? 2. Suy nghĩ của em về câu danh ngôn “Tri thức là sức mạnh” ********************************************************** C. PHẦN VĂN HỌC I. BÀI THƠ ĐỒNG CHÍ CỦA NHÀ THƠ CHÍNH HỮU: 1. Tác giả: - Chính Hữu: Tên thật : Trần Đình Đắc (1926). Ông là nhà thơ của quê hương Can Lộc- tĩnh Hà Tĩnh. - Ông là nhà thơ chiến sĩ, tham gia hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Bắt đầu làm thơ từ năm 1947. - Đề tài: Chủ yếu là viét về người lính và chiến tranh.
  8. Thơ ông không nhiều nhưng có những bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh thơ chọn lọc, hàm súc, dư ba * Tác phẩm chính: "Đầu súng trăng treo" (1966) 2.Tác phẩm: Đồng chí được sáng tác vào đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đáu trong chiến dịch Việt bắc (Thu đông 1947) của quân và dan ta đánh bại cuộc tấn công quy mô của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Bài thơ "Đồng chí" là một trong những bài thơ thành công xuất sắc viết về đề tài người lính và tình đồng chí đồng đội cao cả và thiêng liêng. 3. Phân tích bài thơ. Y1: Cơ sở hình thành tình đồng chí: Điểm tương đồng gặp gỡ đầu tiên của người linh chính là sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân: "Quê hương anh nước mặn đồn chua, Làng thôi nghèo đất cày lên sỏi đá" - Hai câu đầu gợi lên hoàn cảnh xuất thân: Các anh đều là những người nông dân mặc áo lính, ra đi từ những miền quê nghèo còn nhiều lam lũ, vất vả, quê anh "nước mặn đồng chua", làng tôi "nghèo đất cày lên sỏi đá". Có sự đối lập giữa nước mặn đồng chua và đất cày lên sỏi đá giữa hai vùng quê nhưng lại có sự tương đồng trong cuộc sống còn nghèo khổ, nhọc nhằn của những người lính. - Vì thế mà họ vốn là những người xa lạ, chẳng hẹn mà lại quen nhau được "Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau" -> Sợi dây nào đã nối với nhau nhanh đến vậy? Đó chính là tình giai cấp đã gắn bó những người lính ở những vùng quê nghèo đến với nhau một cách rất tự nhiên như nó vốn là như vậy. "Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau" thì chỉ có thể là những người cùng chung cảnh ngộ, cùng giai cấp, cùng chung cảnh nghèo khổ như nhau. - Và từ những cái chung này đã dẫn đến một cái chung thứ ba như một điều tất yếu: Cùng chung nhiệm vụ, chung mục đích, lí tưởng chiến đấu - cầm súng lên đường bảo vệ quê hương đát nước. Chính lí tưởng của thời đại đã gắn kết họ lại với nhau trong hàng ngũ quân đội cách mang. Nhà thơ đã diễn tả điều này bằng một hình ảnh thơ đẹp, hàm chứa ý nghĩa sâu sắc: "Súng bên súng, đầu sát bên đầu"
  9. - Khẩu súng tượng trưng nhiệm vụ chiến đấu, "đầu" biểu tượng cho lí tưởng, suy nghĩ của người lính. Và khi "súng bên súng, đầu sát bên đầu" thì đó chính là lúc họ hiểu nhau, tâm đầu ý hợp, cùng chung chí hướng để từ đó tình đồng chí nảy nở và trở thành bền chặt trong sự chan hoà và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui: "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ" -> Cái khó khăn, thiếu thốn hiện lên: đêm rét, chăn không đủ đắp nên phải "chung chăn". "Chung chăn" là chung nhau một hơi ấm sẻ chia giữa cái buốt giá khắc nghiệt của núi rừng Việt Bắc đã không làm họ tê cứng, gục ngã => Từ tất cả những điểm tương đồng ấy, những người lính ban đầu là xa lạ-> quen nhau-> tri kỉ và giờ đây đã trở thành "đồng chí" của nhau. -> Hai tiếng được tách ra thành một dòng thơ, với một dấu chấm , ngân vang như một tiếng gọi tha thiết, vừa tạo thành một nốt nhấn, lắng lại, như khẳng định về một tình cảm rất đỗi thiêng liêng và cao cả. Y2: Hai tiếng “đồng chí” như một bản lề khép lại cơ sở hình thành tình đồng chí và mở ra những biểu hiện cảm động của tình đồng chí. - Trước hết là tình đồng chí là sự gắn bó, cảm thông thấu hiểu sâu sắc những tâm tư, tình cảm, nổi niềm sâu kín của nhau khi xa quê hương đi đánh giặc: "Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính" - Người lính đi đánh giặc để lạ sau lưng mình những gì thương quý nhất của quê hương: ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa...Từ "mặc kệ" cho thấy tư thế ra đi dứt khoát, thanh thản của các anh vì nghĩa lớn. Nhưng sâu xa trong lòng họ, họ vẫn luôn nhó về quê hương. Ở ngoài mặt trận, họ vẫn hình dung thấy gian nhà không đang lung lay trong cơn gió nơi quê nhà xa xôi. - Từ hiểu nhau mà thương yêu nhau. "Đông chí còn là sự đồng cảm sâu sắc, thương yêu chân thành, cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính: "Anh với tôi biét từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá
  10. Miệng cười buốt giá Chân không dày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" - Những gian lao thiếu thốn trong cuộc sống người lính những năm kháng chiến chống Pháp hiện lên thật cụ thể, chân thực: áo rách, quần vá, chân không dày... sự trừng trải của cuộc đời người lính đã cho Chính Hữu biết được sự khổ sở khi bọ những cơn sốt rét rừng hành hạ: người nóng sốt hầm hập đến ướt cả mồ hôi mà vẫn cứ ớn lạnh đén run người. Và nếu như không có sự từng trải dó nnàh tơ cúng không biết được cái cảm giác của “miệng cười buốt gí”: tròi buốt giá, môi miệng kho và nứt nẻ, nói cưòi rất khó khăn, có khi nứt ra chảy cả máu. Thế nhưng những người lính vẫn cười – họ vẫn cười trong gian lao, bởi học có niềm vui và hơi ấm của tình đồng chí “thương nhau tay năm lấy bàn tay”. Hơi ấm của bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cái lạnh ở chân không giày và thời tiết buốt giá. Y3: Bài thơ kết thúc là một biểu tượng đẹp của tình đồng chí: “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng canh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo” - Đoạn thơ mở ra một khoảng thời gian cụ thể “đêm nay” cũng như bao đêm khác giữa không gian là “rùng hoang, sương muối” hoang vu, lạnh lẽo, ẩn chứa nhiều hiểm nguy, rình rập và những người lính xuất hiện: - Họ xếp hàng ngang trong tâm thế chủ động “chờ giặc tới”. Và Việt Bắc đêm hôm ấy là một đêm trăng sáng, trăng trong ngần, trăng lên cao rồi trăng tàn, trăng xế và tâm hông người lính lãng mạn dõi theo mãnh trăng thu để rồi đến một lúc nào đó trăng như treo đầu mũi súng, lơ lững chông chênh trong bát ngát - Và đêm hôm ấy, mỗi người lính có ba người bạn: + Người đồng đội bên cạnh + Khẩu súng + Vầng trăng => Ba hình ảnh ấy kết tinh thành một hình ản hàm súc để lại ấn tương sâu sắc trong người đọc: Đầu súng trăng treo”. - Hình ảnh gợi nhiều liên tưởng sâu xa. Súng biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện thực khóc liệt. Trăng biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, thơ mộng và lãng mạn. Hai hình ảnh “súng” “trăng”kết hợp với nhau tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời
  11. người lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được đặc điểm của thơ ca kháng chiến – một nền thơ giàu chất hiện thực và dạt dào cảm hứng lãng mạn. => Hình ảnh đó kết thúc trở thành một biểu tượng đẹp: Ca ngợi tình đồng chí, đồng đội của người lính những nămg kháng chiến chống Pháp. 4. Giá trị của bài thơ: a. Nghệ thuật: - Bài thơ thành công với thể thơ tự do - Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, chắt lọc, âm vang mang âm hưởng của văn học dân gian - Hình ảnh thơ sóng đôi vừa cụ thể, chân thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. - Giọng điệu thủ thỉ tâm tình. b, Nội dung: - Bài thơ đã tái hiện được hiện thực chiến trường đầy khó khăn, gian khổ của thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. - Bài thơ ca ngợi một tình cảm mới mẻ, thiêng liêng cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ - tình đồng chí -> Vẻ đẹp của người, của tình đồng chí, đồng đội ấy sẽ sống mãi theo thời gian. 5. LUYỆN ĐỀ: Đề 1: Giải thích nhan đề bài thơ “Đồng chí” Đề 2: Phân tích hình ảnh người lính qua đoạn thơ: ‘Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ Đồng chí! Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính’. (Chính Hữu, trích “Đồng chí”, Ngữ Văn 9, tập 1)
  12. Đề 2: Phân tích hình ảnh người lính qua đoạn thơ: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo” (Chính Hữu, trích “Đồng chí”, Ngữ Văn 9, tập 1) II. “BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH” CỦA NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 1. Tác giả: - Phạm Tiến Duật: Sinh năm 1964 -2007, quê ở huyện Thanh Ba - Tỉnh Phú Thọ - Năm 1964 tốt nghiệp khoa Ngữ Văn - Đại học sư phạm Hà Nội vào bộ đội tháng 8- 1964, hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn.Ông có nhiều đóng góp, tìm tòi cho nền thơ hiện đại Viẹt Nam. - Ông thuộc lớp nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. -> Là một nhà chiến sĩ nên đề tài chủ yếu của ông là viết về người lính, tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ qua các người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. - Thơ Phạm Tiến Duật có một giọng điệu riêng: Sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc, ngang tàng nhưng rất lính. * Các tác phẩm chính: - Vầng trăng quầng lửa (thơ 1970) - ở hai đầu núi (thơ 1971) - Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983)... - Tác giả dã được nhận : Giải nhất cuộc thi báo Văn nghệ 1969-1970
  13. 2. Tác phẩm: (1969) - Bài thơ nằm trong chùm thơ của Phạm Tiến Duật được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969-1970 - Bài thơ in trong tập thơ "Vầng trăng quầng lửa" (1970) của tác giả. II. Phân tích vẻ đẹp của những người lính lái xe trong bài thơ. Y1: Hai câu đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính “Xe không kính không phả vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi” - Bằng những câu thơ dài, mang âm hưởng của văn xuôi bởi cách sử dụng điệp từ ngữ “không” “không có kính” cùng những từ đạm tính khẩu ngữ “không phải” “đi rồi” và những động từ mạnh “giật” “rung” -> hai câu thơ đã giải thích nguyên nhân những chieecs xe không kính một cách hồn nhiên, vô tư, hài hước: vì bom giật bom rung nên xe mất kính -> Đó chính là hiện thực khốc liệt của chiến trường. Y2: Nhưng cũng chính từ hiện thực ấy lại là hoàn cảnh để những người lái hiện lên với những với những phẩm chất cao đệp của người lính cụ Hồ. * Trước hết họ là những người lính trẻ trung với tư thế ung dung mà hiên ngang, tâm hồn lãng mạn, hào hoa: "Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng" -> Xe không kính, đó là sự thiếu thốn phương tiện. Nhưng thật bất ngờ người lính đã biến sự thiếu thốn đó thành sự hưởng thụ. Trong buồng lái không có kính chắn gió, họ được trực tiếp đối mặt với thiên nhiên bên ngoài, họ càng dễ nhìn đất, nhìn trời với tư thế nhìn thẳng thật hiên ngang. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi lại một cách tinh tế, sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh, điệp ngữ: "Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhùn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đọt ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái" Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng, đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận được biểu hiện một thái độ tự tin, bình
  14. tĩnh, thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh. Chính tư thế "ung dung" của các anh đã giúp các anh nhìn thấy gió , con đường, đến cả sao trời, cánh chim. Thế giới bên ngoài uà vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh những cánh chim "như sa, như ùa vào buồng lái" thật sing động, gợi cảm. Hình ảnh "con đường chạy thẳng vào tim" gợi liên tưởng về con đường ra trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng. * Xe không kính và tinh thần lạc quan, dũng cảm bất chấp những khó khăn hiểm nguy của người lính” " Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìm nhau mặt lấm cười ha ha Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi" - Những chiếc xe càng đi sâu vào chiến trường thì khó khăn, hiểm nguy lại càng chồng chất: - Không chỉ có mưa bom bão đạn của kẻ thù - Mà còn có một kẻ thù thầm lặng luôn đe dọa hành trình ra Bắc vào Nam đó là Mưa và Bụi Trường Sơn: Bụi thì phun tóc trắng Mưa tuôn, mưa xối -> nhưng họ “chưa cần rửa, chưa cần thay". Điệp khúc ấy tạo nên giọng điệu ngang tàng, bất chấp: đầu tóc mặt mũi bụi bám trắng không cần rửa, áo ướt không cần thay ... Khó khăn là thế nhưng các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ , trước kẻ thù mà trái lại họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh, ý chí. Họ vẫn có thể phì phèo châm điếu thuốc- nhìn nhau mặt lấm cýời ha ha...Niềm vui và tiếng cười của những người lính trẻ sôi nổi, tinh nghịch cứ vút lên giữa gian khổ khắc nghiệt, giữa cả nguy hiểm chết người của chiến tranh với bom giật, bom rung... ->Và niềm vui của họ càng được nhân lên khi chung quanh họ đều là những con người lạc quan như thế: * Xe không kính với tình đồng chí, đồng đội sâu sắc thắm thiết "Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
  15. Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi ................................................. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy" - Sau những chặng đường gian khổ, những tháng ngày mưa, gió, bụi mù...và bom đạn, họ lại gặp nhau...Cái bắt tay qua ô cửa kính vỡ là một sự bù đắp tinh thần cho sự thiếu thốn về vật chất, Giữa cái gian khó hiểm nguy, giữa sống và chết họ vẫn có niềm vui chung của người đồng đội, gắn bó với nhau như ruột thịt, gia đình. - Họ vẫn lạc quan băng về phía trước: "Lại đi, lại đi trời xanh thêm". Điệp ngữ "lại đi" cùng với hình ảnh "trời xanh thêm" giúp ta hiểu thêm lòng lòng phơi phới say mê trước những chặng đường mà người đã đi và đandddi và sẽ đi. "Trời xanh thêm" thể hiện một nìêm tin về một ngày mai chiến thắng, một tinh thần hiên ngang, dũng cảm, một tâm hồn chứa chan hi vọng, lạc quan, yêu đời. * Xe không kính với tình yêu nước. là ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc: “ Không có kính, rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim" Bốn câu thơ dựng lên hai hình ảnh đối lập, tương phản rõ rệt giữa vật chất và tinh thần, giữa bên ngoài và bên trong, giữa cái không có và cái có. Bom đạn kẻ thù thật dữ dội và khốc liệt đã tước đi của chiếc xe rất nhiều, biến chiếc xe trơ trọi đến kì la, ba cái không có: Không có kính, rồi xe không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước...tất cả đều không nguyên vẹn . Nhưng có hề gì xe vẫn băng về phía trước. Sức mạnh để chiếc xe băng ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính "chỉ cần trong xe có một trái tim". -> Có trái tim ấy là sẽ có tất cả: "Trái tim" - hình ảnh hoán dụ thể hiện sức mạnh chiến đấu, tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí kiên cường của người lính lái xe vì sự nghiệp giải phóng Miền Nam thân yêu, vì sự nghiẹp thống nhất đát nước. 3. Giá trị của bài thơ: - Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho phong cách Phạm Tiến Duật a. Nghệ thuật:
  16. - Thể thơ tám chữ có biến tấu; kết cấu đối lập xuyên suốt toàn bài. - Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên khỏe khoắn - Hình ảnh thơ chân thực - Giọng điệu ngang tàng, đậm chất lính b. Nội dung: - Bài thơ đã tái hiện được hiện thực khốc liệt của chiến trường trường Sơn rực lử những năm kháng chiến chống Mỹ. - Bài thơ ca ngợi những chiến sĩ lái xe: dũng cảm ngoan cường, lạc quan, yêu đời. Trong mưa bom bão đạn quyết chiến đấu hi sinh vì một lí tưởng cao đẹp là giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc. 5. LUYỆN ĐỀ: Đề 1: Giải thích nhan đề “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Đề 2: Cảm nhận của em về đoạn thơ: Không có kính không phải vì xe không có kín Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi” (Phạm Tiến Duật, trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kín, NV9 - tập 1) Đề 3: Cảm nhận đoạn thơ :
  17. “...Những chiếc xe từ trong bom rơi Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim” (Phạm Tiến Duật, trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. NV9 - Tập 1) HẾT
  18. III. BÀI THƠ ÁNH TRĂNG CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN DUY 1. Tác giả: - Nguyễn Duy: Nguyễn Duy Nhuệ sinh năm 1948 - Quê ở làng Quảng Xá - xã Đông Vệ - Thành phố Thanh Hoá. - Gia nhập quân đội thông tin từ năm 1966, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. - Là một nhà thơ chiến sĩ. - Thơ của Nguyễn Duy dung dị, hồn nhiên và trong sáng. - Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ sáng tạo, gợi cảm và rất đẹp, một vẻ đẹp chân quê. Sau này cảm xúc trữ tình trong thơ Nguyễn Duy ít nhiều pha màu sắc triết lí khá thâm trầm, sâu sắc (ánh trăng;: Giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt suy tư) 2. Tác phẩm: => Nguyễn Duy viết bài thơ này vào lúc cuộc kháng chiến đã khiếp lại được ba năm (1978) - ba năm sống trong hoà bình, không phải ai cúng còn nhớ những gian khổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Ngưyễn Duy viết "Ánh trăng" trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm riêng của nhà thơ. Nhưng ý nghĩa bài thơ không chỉ có thế. Nhà thơ đứng giữa hôm nay mà nhìn ngẫm lại thời đã qua và từ tâm trạng riêng, tiếng thơ ông như một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở, như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, vơi mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình, giữ trọn đạo lí tốt đẹp. 3. Phân tích bài thơ: * Trăng và con người trong quá khứ: (hai khổ thơ đầu) - Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la "Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành đôi tri kỉ" - Với thể thơ 5 chữ hiện đại, giọng điệu thủ thỉ tâm tình, khổ thơ đã tái hiện một quá khứ rất xa của người lính “Hồi nhỏ”, “Hồi chiến tranh”. Đó là một khoảng thời gian dài, từ thời niên thiếu đến lúc trưởng thành và nhất là trong những năm tháng gian
  19. lao của chiến tranh. Cả một khoảng thời gian dài đó có biết bao kỷ niệm đẹp giữa người với trăng. - Con người với một tuổi thơ đầy vất vả gian lao, lấm lem bùn đất nhưng gần gũi với thiên nhiên: với đồng, với bể, với rừng. Đó là một cuộc sống bình dị, vô tư, hồn nhiên, con người và trăng như hòa quyện gắn bó bền chặt, sẻ chia mọi niềm vui, cùng đồng cam cộng khổ, cùng xoa dịu những đau thương mất mát của chiến tranh bằng một thứ ánh sáng mát dịu. - “hồi chiến tranh ở rừng/vầng trăng thành tri kỉ”-> Phép nhân hóa: trăng như một người bạn tri kỉ, đồng hành cùng với con người trên mỗi bước đường gian lao. "Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ" - Cả một quãng thời gian dài trong quá khứ con người và trăng sống vô tư, hồn nhiên, mộc mạc, không toan tính “hồn nhiên như cây cỏ”. -> Chính vì thế từ trong sâu thẳm, con người tự hứa sẽ không bao giờ quên người bạn “trăng, bởi trăng là tri kỉ, là tình nghĩa, là biểu tượng của quá khứ, nghĩa tình - Từ “ngỡ” xuất hiện như một lời thề đinh ninh, là ḷng từ dặn lòng không quên quá khứ. Nhưng từ “ngỡ” ấy thảng thốt một dự cảm lo âu về sự rạn nứt trong mối quan hệ vốn tốt đẹp giữa * Trăng vầ con người trong hiện tại - Khổ thơ thứ 3 đưa người đọc trở về hiện tại với những thay đổi do hoàn cảnh cuộc sống thay đổi giữa con người và vầng trăng: "Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường" - Tác giả đã tạo ra sự đối lập về hoàn cảnh sống của con người trong hiện đại và quá khứ. + Nếu trước đây, con người sống với sông, với đồng, với bể, với rừng, thì nay trở về với cuộc sống “ánh điện cửa gương”-> Đó là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho cuộc sống đầy tự do, xa hoa, hào nhoáng về vất chất được khép kín trong những căn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên.
  20. + Mọi sự thay đổi trong tình cảm của con người, đó là sự lãng quên vầng trăng trong một thời tri kỉ. Cái bạc bẽo vô tình đến với người ta từ từ kín đáo, khó nhận ra. Vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trở thành người dưng. - Vầng trăng “đi qua ngõ” nhưng con người hờ hững thờ ơ, lạnh lùng, tàn nhẫn, không còn nhận ra trăng là tri kỉ. - Con người trước cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, ấm êm, dễ vô tình hay cũng có thể quên đi quá khứ gian khổ, đau thương. + Lãng quên vô tình có thể là mãi mãi nếu không có một bất ngờ. Hoàn cảnh bài thơ được đẩy đến bước ngoặt mới khi: "Thình lình đèn điện tắt phòng buynh đinh tối om” - Đây là một tình huống rất quen thuộc, rất thực nhưng tình huống ấy đã tạo nên bước ngoặt để con người bộc lộ cảm xúc: phòng buynh đinh mất điện, tiện nghi bấy lâu con người quen hưởng thụ đã đột ngột bị cắt. - Phép đảo ngữ: “thình lình” “đột ngột” đặt lên đầu câu tạo nên nhịp thơ nhanh, nhấn mạnh sự việc bất thường, đèn điện tắt, phòng buynh đinh tối ôm >< Vầng trăng tròn tỏa sáng. Đó là sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối - Việc con người “vội bật tung cửa sổ” như là một việc làm theo thói quen để tìm kiếm ánh sáng. Và trong khoảnh khắc bất ngờ ấy con người không khỏi ngỡ ngàng, bàng hoàng khi nhận ra vẫn như xưa, đẹp đẽ, đầy đặn, vẹn nguyên không mảy may sít mẻ. -> Dường như vâng trăng tròn năm xưa vẫn luôn đứng bên cửa sổ chờ đợi, vẫn tỏa sáng, vẫn đồng hành cùng con người. * Cảm xúc của con người khi gặp lại vầng trăng (khổ 5) Khổ thơ thứ 5 diễn tả sự xúc động mãnh liệt của nhà thơ. "Ngữa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng" - "Ngữa mặt lên nhìn mặt" là một cuộc đối diện đàm tâm giữa con người với vầng trăng. Người bạn tri kỉ mà mĩnh đã lãng quên, vầng trăng đối diện với con người hay nói quá khứ đối diện với hiện tại ; thủy chung tình người đối diện với bạc bẽo, vô tình và lãng quên ; giữa hôm nay và hôm qua.