Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nham_nang_cao_chat_lu.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do viết SKKN: Chúng ta đều biết: "Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp". Để xã hội tồn tại và phát triển con người cần có giao tiếp, để giao tiếp được mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng ngày, để giao tiếp ngoài ngôn ngữ nói còn có ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ viết đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giao tiếp của các quốc gia nói chung cũng như Việt Nam nói riêng. Yêu cầu đầu tiên, đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả. Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị cản trở giữa các địa phương trong cả nước. Đặc biệt là ở những vùng có đa số là người dân tộc thiểu số. Trong quá trình dạy học tôi phát hiện ra được là hầu hết các em học sinh dân tộc thiểu số thường viết sai lỗi chính tả rất nhiều. Chính vì vậy mà tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục để giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay. Từ thực trạng trên, việc nghiên cứu tìm ra một số những biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng trên là hết sức cần thiết. Bản thân là một giáo viên dạy học ở vùng 100% học sinh là người dân tộc thiểu số, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu chuyên đề: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn chính tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 trường TH Bế Văn Đàn. Đó chính là lý do mà tôi đề xuất SKKN này. 2. Mục đích SKKN: - Tìm ra những biện pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học, các biện pháp phải phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường. Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 1
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== - Đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn vận dụng trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng phân môn chính tả cho học sinh lớp 5 - Nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề: Về “ Nội dung, phương pháp nâng cao chất lượng phân môn chính tả cho học sinh DTTS lớp 5 trường TH Bế Văn Đàn” 1. 1. Các khái niệm cơ bản về các quy tắc chính tả: 1.1.1 . Âm v ị Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, một âm tiết bao giờ cũng được phát ra với một thanh điệu, và tách rời với âm tiết khác bằng một khoảng trống. Trên chữ viết, mỗi âm tiết tiếng Việt được ghi thành một "chữ" và đọc thành một "tiếng". Ví dụ: từ "hoa hồng bạch" gồm 3 chữ, 3 tiếng hoặc 3 âm tiết. 1.1.2. Từ Từ là đơn vị nhỏ nhất của lời nói mang đầy đủ ý nghĩa truyền tải. Từ có thể gồm duy nhất một âm tiết (từ đơn âm) hoặc cấu thành từ nhiều âm tiết (từ đa âm). 1.1.3. Nguyên âm Các nguyên âm là a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư và y. Trong đó, các nguyên âm có dấu phụ là ă, â, ê, ô, ơ và ư. 1.1.4. Bán nguyên âm Chỉ có 3 trường hợp của oa, oe, uy thì có o và u là bán nguyên âm, đóng vai trò đệm cho nguyên âm. Có nghĩa là o và u không được xem là nguyên âm trong tổ hợp 3 âm tiết trên. 1.1.5. Phụ âm Các phụ âm là b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x. 1.1.6. Tổ hợp phụ âm Các phụ âm ghép chuẩn là ch, gh, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr, gi và qu. Ngày nay, các tổ hợp phụ âm không được nhìn là chữ riêng khi sắp xếp theo chữ cái, cho Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 2
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== nên những từ điển mới bỏ ch ở giữa ca và co, nhưng một số từ điển cũ, như là Từ - Điển Thông-Dụng Anh-Việt Việt-Anh của Nguyễn Văn Khôn năm 1987, bỏ ch đằng sau co. Chú ý: gi và qu là tổ hợp bán phụ âm. Tại đây, i và u không là nguyên âm, mà chỉ là một bộ phận của phụ âm bất khả phân 1.2. Mục tiêu phân môn chính tả lớp 5: Phân môn Chính tả lớp 5 chủ yếu tập trung rèn luyện kỹ năng viết chính tả chính xác cho học sinh. Thông qua làm việc các bài tập chính tả, học sinh lớp 5 nắm được các quy tắc viết của chữ quốc ngữ, nắm được cách viết đúng các từ có âm đầu, vần và thanh điệu học sinh địa phương hay mắc lỗi do ảnh hưởng của cách phát âm. Học sinh có viết đúng chính tả thì mới viết văn bản đúng chuẩn chính tả và do đó các em mới có thể giao tiếp tốt bằng ngôn ngữ nói, văn bản. Do vậy mục tiêu của phân môn Chính tả lớp 5 là: Trang bị một số kiến thức về quy tắc chính tả Tiếng Việt; rèn luyện kỹ năng nghe, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đọc để cảm thụ văn bản, kỹ năng viết đúng chính tả đoạn văn, bài văn; phát triển ý thức viết đúng chính tả, thái độ cẩn thận và yêu cái đẹp trong giao tiếp bằng chữ tiếng Việt. 1.3. Nội dung dạy học chính tả: - Mạch kiến thức về quy tắc chính tả Hệ thống hoá những hiểu biết về cách viết đúng các âm đầu, vần, thanh điệu của các từ thuộc vốn từ đã học theo chủ điểm. Hệ thống hoá về quy tắc viết tên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài. - Mạch kỹ năng viết chính tả: nghe - viết, nhớ - viết một đoạn văn hoặc đoạn thơ, trình bày bài viết theo quy định. + Viết đúng các từ ngữ dễ sai lẫn trong các bài chính tả nghe - viết, nhớ - viết, cụ thể là: - Các từ có âm đầu hoặc âm chính có nhiều cách viết - Các từ có vần khó xuất hiện trong các bài chính tả. - Các từ mà phát âm của tiếng địa phương lệch so với chuẩn. Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 3
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== + Các tên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài. Trong những nội dung trên có phần nội dung bắt buộc dạy cho tất cả học sinh ở các vùng miền, trong cả nước, có những nội dung cho phép các trường, lớp ở từng địa phương được lựa chọn để dạy cho phù hợp với đặc điểm của học sinh địa phương. Phần nội dung tự chọn là phần viết đúng các từ mà phát âm của tiếng địa phương lệch so với chuẩn trong mỗi bài học. Trong trường hợp các bài tập tự chọn trong sách giáo khoa không phù hợp với đặc điểm phát âm của tiếng địa phương nơi có trường lớp mình dạy, giáo viên có thể soạn bài tập thay thế cho bài tập ở sách giáo khoa sao cho nội dung bài thay thế phù hợp với đặc điểm phát âm của tiếng địa phương dẫn đến lỗi chính tả học sinh lớp mình, trường mình thường mắc. 1.4. Phương pháp và biện pháp chủ yếu để dạy học chính tả lớp 5. - Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Thực hiện phương pháp này, tôi thường đọc mẫu các từ mà học sinh dễ mắc lỗi, học sinh nghe và phát âm lại cho đúng các từ đó. Tiếp theo tôi yêu cầu học sinh phân tích tiếng mắc lỗi thành các phần âm đầu, vần và thanh điệu, từ đó học sinh nhớ cách ghi các bộ phận của tiếng để viết đúng. Trước khi viết bài chính tả, học sinh viết từ này ra bảng con. Một biện pháp cần thực hiện để dạy học chính tả theo mẫu là tổ chức cho các nhóm học sinh lập sổ tay chính tả của nhóm. Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi các lỗi chính tả mà học sinh trong nhóm mắc trong các bài viết và cách viết đúng các từ đó. Sau khi ghi các từ mắc lỗi và cách sửa, học sinh cần ghi thêm các từ em biết có các âm đầu, vần, thanh, các từ là tên riêng tương tự như các từ mà em đã mắc lỗi để giúp các em biết cách viết đúng nhiều từ. - Phương pháp thực hành giao tiếp. Thực hành giao tiếp trong dạy học chính tả là chủ yếu thực hành giao tiếp bằng chữ viết ghi lại các từ có nghĩa. Muốn cho học sinh học tập theo phương pháp này, giáo viên cần cho học sinh biết nghĩa của các đơn vị giao tiếp (từ, câu), chuẩn chữ viết của các đơn vị này, sau khi hoàn thành bài viết, cần cho học sinh kiểm tra lại để sửa lỗi sao cho các đơn vị giao tiếp trong bài đều đúng với chuẩn chính tả. Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 4
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ đoạn văn các em sẽ viết, hiểu nội dung đoạn văn, viết trước một số từ học sinh dễ viết sai. Sau đó giáo viên đọc cho các em viết hoặc cho các em nhớ từng câu để viết lại. Sau khi học sinh viết xong cả đoạn giáo viên cho các em tự soát lỗi của mình rồi sau đó đổi bài cho bạn và tự sửa lỗi. Khi giáo viên chấm bài, cần chỉ ra những lỗi trong bài chưa được sửa và chỉ rõ cách sửa. - Phương pháp sử dụng trò chơi học tập: Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần xác định mục đích của trò chơi là nhằm củng cố cách viết đúng âm, vần, thanh điệu nào. Sau đó, giáo viên cần lựa chọn trò chơi phù hợp với mục đích. Trò chơi chính tả cần có nội dung bám sát chương trình chính tả lớp 5. Nên có những trò chơi giúp học sinh nhớ cách viết âm đầu, vần, thanh điệu của một số từ học sinh viết sai ảnh hưởng của phát âm địa phương, một số trò chơi giúp học sinh phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài viết. Khi tổ chức chơi, giáo viên cần nêu rõ luật chơi, cách tiến hành luật chơi để tất cả học sinh đều biết cách chơi. Giáo viên nên lựa chọn các trò chơi có luật đơn giản, có thể dùng để dạy học nhiều hiện tượng chính tả, dễ kiếm vật liệu để chuẩn bị. 1. Thực trạng dạy và học phân môn chính tả cho học sinh lớp 5 tại trường tiểu học Bế Văn Đàn . 2. 1. Thực trạng dạy học: + Thuận lợi - Đa số GV đều xác định được vị trí, nhiệm vụ, nội dung của phân môn chính tả. - Nội dung dạy học chính tả làm rõ được đặc điểm ngữ âm và chữ viết tiếng Việt liên quan tới Chính tả. - SGV và những tài liệu bổ trợ cho Chương trình và SGK đã hỗ trợ GV nắm rõ được các nguyên tắc và phương pháp dạy chính tả. - Phong trào “Viết chữ đẹp – giữ vở sạch” được phát động sôi nổi trong nhà trường. Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 5
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== - Tiết Chính tả ở các lớp học được chú trọng, sản phẩm viết các đoạn văn, đoạn thơ trong vở Chính tả của HS được rèn dùng để đánh giá, trưng bày tại trường lưu giữ được nhiều năm. + Khó khăn: *Về phía Giáo Viên: Trong giảng dạy GV chưa đảm bảo tốt nguyên tắc dạy học chính tả: Mục đích của chính tả là rèn luyện khả năng “đọc thông, viết thạo”, chủ yếu là viết đúng chuẩn mực chữ viết và dạng thức viết của ngôn ngữ. - Chưa đảm bảo được đặc điểm của chữ viết tay mẫu: để viết đúng chính tả, cần viết đủ các nét chữ cơ bản (nét khu biệt) cũng như các nét liên kết trong mỗi chữ cái và giữa các chữ cái với nhau. *Về phía học sinh: đặc điểm học trước quên sau; do ảnh hưởng phương ngữ, thổ ngữ; do giao tiếp hằng ngày với gia đình, ở địa phương, Tuy nhiên, qua khảo sát kết quả qua các lần kiểm tra, dự giờ phân môn này ở một số lớp (đặc biệt là kết quả lần kiểm tra cuối kỳ 2 khối lớp 5, năm học 2014-2015), tại trường TH Bế Văn Đàn số HS bị điểm yếu phân môn này còn khá nhiều, cụ thể : Năm học 2014 – 2015: Lớp TSHS kiểm tra Số lượng yếu Tỷ lệ 5A 25 2em 8% 5B 26 2em 7,7% 5C 27 3em 11,1% 2.2. Tình hình học sinh khối 5. - Số liệu học sinh : Năm học 2014 – 2015 Năm học: 2015 – 2016 Lớp Tổng số Nữ Dân tộc NDT Tổng số Nữ Dân tộc NDT 5A 25 8 25 8 32 18 32 18 5B 26 16 26 16 31 15 31 15 Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 6
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== 5C 27 10 27 10 32 10 31 9 Tổng 78 34 78 34 95 43 94 42 Phần đông là con em người dân tộc Bahnar sống không tập trung và ở xa trường. Còn chưa đủ sách vở, đồ dùng học tập, tinh thần, thái độ học tập chưa cao. 2.3. Về "dạy và học phân môn chính tả cho học sinh lớp 5" tại trường tiểu học Bế Văn Đàn. Dạy kiến thức phổ thông bằng tiếng dân tộc thì trẻ tiếp thu rất nhanh, nhưng sau đó dạy kèm song ngữ bao gồm tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ sẽ mất nhiều thời gian và thiếu giáo trình chuẩn.. Còn nếu dạy tiếng phổ thông từ đầu, học sinh khó tiếp thu, buộc giáo viên phải biết cả tiếng dân tộc thiểu số. Do chưa thạo tiếng phổ thông, việc tiếp thu kiến thức của những học sinh này luôn bị hạn chế. Chính vì vậy mà giáo viên cần tìm ra nhiều giải pháp, nội dung phù hợp với thực tế địa bàn dân cư xã ĐăkBlà để áp dụng tốt vào việc dạy phân môn chính tả. Do đó, giáo viên cần chú ý coi quá trình dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số như một ngôn ngữ thứ hai. Học sinh dân tộc thiểu số học tiếng Việt được xem như là ngôn ngữ thứ hai, nên khả năng nghe - nói tiếng Việt của các em rất hạn chế do các em có vốn từ rất ít về tiếng Việt. Nhiều học sinh dân tộc thiểu số chưa đạt được yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng môn tiếng Việt ở lớp 1 nên không ít học sinh dân tộc đã học hết lớp 1 nhưng vẫn chưa đạt đọc thông, viết thạo về tiếng Việt, thậm chí tới lớp 4, lớp 5, học sinh cũng còn đọc rất yếu, viết chính tả rất chậm và mắc khá nhiều lỗi: lỗi về dấu thanh (huyền/sắc, hỏi/nặng), về âm vần (s/x..) , về phương ngữ (i/ia, ư/ưa, ơi/ây .), . Chính vì những lý do đó mà học sinh dân tộc thiểu số chưa mạnh dạn, tự tin khi sử dụng tiếng Việt trong học tập và giao tiếp. Là một môn có tính chất công cụ nhưng do trình độ tiếng Việt còn yếu kém dẫn tới việc các em khó tiếp thu các môn học Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 7
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== khác, đồng thời khó tiếp tục học lên các lớp trên. Để khắc phục tình trạng trên cần thực hiện nhiều biện pháp. 2. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: 3.1. Một số lỗi chính tả học sinh thường viết sai: a. Về thanh điệu: Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) nhưng do ảnh hưởng phương ngữ, nên học sinh thường sai 4 thanh: huyền / sắc, hỏi / nặng. Tiếng có dấu thanh thì HS bỏ đi, còn tiếng không có dấu thanh thì học sinh lại thêm vào, b. Về âm đầu: - Một số ít học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây: + c/k: Céo cờ + g/gh: Con gẹ , gê sợ + ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc + s/x: Cây xả , xa mạc c. Về âm chính: - Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây: + ai/ay/: Bàn tai, chái nhà,ngày/ng ài + ao/au/: sao/sau, ch áu/ch áo + ui/uôi: chín mùi, đầu đui, tủi tác + ơi/ ây: mấy /mới, đầy/ đời, v ậy/ vợi,.. + ư/ ưa: d ư/dưa, giữ/giữa + i/ia: nghĩ / nghĩa..... d. Về âm cuối: - Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây: + anh/ang: nhanh/nhang, (một số ít) + ăn/ăng: lẳn lặn, căn tin + ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 8
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== +êt/êch: trắng bệt + uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm 3.2. Nguyên nhân mắc lỗi: 3.2.1. Do ảnh hưởng của phương ngữ, thổ ngữ: Học sinh người dân tộc thiểu số: viết sai nhiều về thanh điệu và một số vần có nguyên âm đôi: uô, iê ; thường viết lẫn lộn một số chữ ghi phụ âm đầu (g/gh, c/x/k/q, r/d/gi, ), có phụ âm cuối (n/ng, ) 3. 2.2. Do hạn chế về vốn từ: + Chưa hiểu nghĩa cụ thể của từ ; + Do cách phát âm của HS dân tộc thiểu số các em thường đọc bỏ các dấu thanh nên dẫn đến các em viết sai hoặc thiếu dấu thanh. 3.2.3. Do chưa nắm vững các quy tắc chính tả tiếng Việt: + Quy tắc viết hoa (tên riêng, đầu câu); + Quy tắc viết các chữ c/k/q, g/gh, ng/ngh hay i/y, 3.2.3. Do giáo viên: + Phát âm chưa chuẩn; + Cách đọc cho học sinh viết; + Cách dạy (việc vận dụng, phối hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, ) + Cách hướng dẫn học sinh soát bài, sửa bài; + Cách nhận xét, đánh giá bài viết học sinh, + Cách sữa lỗi cho học sinh chưa có hiệu quả và triệt để. 2.3. Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 trường tiểu học Bế Văn Đàn. Muốn có các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn chính tả cho HS lớp 5 vùng DTTS người GV cần nắm vững các phương pháp dạy học chính tả và tìm ra được những nguyên nhân mắc lỗi để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục: 3.3.1 Luật chính tả : Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 9
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== + Ng, g, c luôn đứng trước a, ă, â, u, ư, o, + Ngh, gh, k luôn đứng trước âm e, ê, i Để học sinh dễ nhớ tôi cho các em kẻ sơ đồ như: 3.3.1. Luật chính tả : + Ng, g, c luôn đứng trước a, ă, â, u, ư, o, + Ngh, gh, k luôn đứng trước âm e, ê, i Để học sinh dễ nhớ tôi cho các em kẻ sơ đồ như: a ă e ng â ngh ê u i ư o a ă e c â k ê u i ư o 3.3.2. Luyện phát âm chuẩn Tiếng Việt: - Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy. - Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như: Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 10
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== - Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp, ), giáo viên lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được. - GV dành thêm thời gian các tiết sinh hoạt cũng như trong các tiết học khác vào việc rèn nói Tiếng Việt cho HS. - Giao tiếp bằng Tiếng Việt nhiều hơn với các em trong các giờ nghỉ giải lao. 3.3.3. Phân tích, so sánh: - Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ. Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này: - Muống = M + uông + thanh sắc - Muốn = M + uôn + thanh sắc. So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng “muốn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai. 3.3.4. Giải nghĩa từ: - Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng. - Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh, Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 11
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== + Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội). + Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa). - Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ. 3.3.5. Ghi nhớ mẹo luật chính tả: - Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê. Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như: + Để phân biệt dấu thanh hỏi/ngã: Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi không mang thanh ngã: - Trong + ấy = trỏng. - Trên + ấy = trển - Cô + ấy = cổ - Chị + ấy = chỉ - Anh + ấy = ảnh - Ông + ấy = ổng - Hôm + ấy = hổm - Bên + ấy = bển + Luật bổng - trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ: Em Huyền mang nặng, ngã đau Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 12
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại). Ví dụ: Bổng Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ Trầm: Huyền + ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo, Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo + Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn: Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân 3.3.6. Làm các bài tập chính tả: Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 13
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ. - Bài tập trắc nghiệm: * Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả: a. Hướng dẩn b. Hướng dẫn c. Giải lụa d. Dải lụa e. Oan uổng f. Oan uổn * Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả: Rau muốn Rau muống Chải chuốc Chải chuốt Giặc quần áo Giặt quần áo * Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả: A B bênh trái bên vực bện tật bệnh tóc - Bài tập chọn lựa: * Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau: Cháu bé đang uống (sửa, sữa) Học sinh ...........mũ chào thầy giáo. (ngả, ngã). Đôi này đế rất .. (giày, dày) Sau khi . con, chị ấy trông thật (xinh, sinh) * Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau: Học sinh . đèn học bài .. đêm khuya. (trong, chong) Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 14
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== Lan thích nghe kể .hơn đọc .. (truyện, chuyện) Trời nhiều .., gió heo lại về. (mây, may) - Bài tập phát hiện: * Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng: Xuân diệu là một nhà thơ trử tình nổi tiếng. Cả phòng khéc lẹc mùi thuốc lá. Lá vàng bay liệng trong gió chiều. Bức tườn bị nức ngang nức dọc. - Bài tập điền khuyết: * Điền vào chỗ trống: l/n: lành . ặn, nao úng, anh lảnh s/x: chim ẻ, san ẻ, ẻ gỗ. uất khẩu, năng .uất. ươn/ương: bay l ..., b . chải, bốn ph .. , chán ch......... iêt/ iêc: đi biền b ....., thấy tiêng t........, xanh biêng b........ * Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống: Hắn bỡ .. trước cuộc sống mới lạ. Buổi trưa hè, trời nắng chói . Dây leo chằng , chắn cả lối đi. Tiếng gà kêu quang - Bài tập tìm từ: Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa . * Tìm các từ chứa tiếng chứa vần ươt hoặc ươc có nghĩa như sau: Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ : Thi không đỗ: Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh: * Tìm các từ chỉ hoạt động: Chứa tiếng bắt đầu bằng r: Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 15
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== Chứa tiếng bắt đầu bằng d: Chứa tiếng bắt đầu bằng gi: Chứa tiếng có vần ươt: Chứa tiếng có vần ươc: * Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau: Trái nghĩa với từ thật thà: Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố: Cây trồng để làm đẹp: Khung gỗ để dệt vải: - Bài tập phân biệt: Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau: nồi - lồi no - lo chúc - chút lụt - lục ngả - ngã - Bài tập giải câu đố * Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau: Mặt .. òn, mặt lại đỏ gay Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao Suốt ngày lơ lửng ên cao Đêm về đi ngủ, .ui vào nơi đâu? (là gì?) * Em chọn dấu hỏi hay dấu ngã để đặt trên những chữ in đậm rồi giải câu đố sau: Cánh gì cánh chẳng biết bay Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi Đôi ngàn vạn giọt mồ hôi Bát cơm trắng deo, đia xôi thơm bùi. Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 16
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== (là gì?) 3.3.7. Ngoài những biện pháp trên tôi còn cho học sinhluyện đọc thêm. Bước luyện viết chữ khó: Đây cũng là bước quan trọng nhưng khi học sinh luyện đọc từ khó kĩ thì việc luyện viết chữ khó tương đối dễ dàng hơn, giáo viên chỉ cần đọc lại các từ học sinh vừa luyện đọc cho các em viết vào bảng con rồi kiểm tra , sửa chữa. Nếu có học sinh viết sai thì gọi em đó lên bảng viết lại cho đúng.Còn đối với bài ít từ khó tôi thường đọc cả câu cho học sinh tự chọn ra từ khó để viết và tìm thêm một số từ cho các em luyện viết thêm Ví dụ: Tiết chính tả hôm nay có vần khó là “uyêt” trong từ “kiên quyết” thì tôi có thể đọc thêm các từ: huyết thống, sào huyệt, trăng khuyết, .cho học sinh viết.(Với những bài chính tả mà nội dung bài không có trong danh sách tập đọc thì giáo viên cần luyện đọc và luyện viết các từ khó kĩ hơn ở tiết chính tả) Bước viết bài: Trước khi đọc cho học sinh viết tôi gọi một vài em nhắc lại luật chính tả mà có liên quan nhiều trong bài bằng cách nêu câu hỏi cho các em trả lời. Ví dụ: Phụ âm ngh thường đứng trước các nguyên âm nào? Khi viết danh từ riêng ta chú ý điều gì? .. Trong quá trình đọc cho học sinh viết giáo viên phải đọc chính xác, sau mỗi cụm từ, mỗi câu phải nhắc lại 3 lần để học sinh theo dõi và luôn theo sát các em nhất là các em Dân tộc tại chỗ, học sinh thiếu cẩn thận để nhắc nhở và khi đọc cần nhấn mạnh các chữ có dấu thanh, vần học sinh hay lẫn lộn, các nguyên âm â, ư, ă, ơ... để các em ghi chính xác, đầy đủ các dấu phụ. Bên cạnh đó nhắc các em phải kiểm tra lại khi đã viết xong câu, xong bài cho thật kĩ. Bước chấm - chữa bài: Đầu tiên tôi cho các em mở sách để tự chữa lỗi bằng cách dùng bút chì gạch chân các từ chứa tiếng viết sai và viết lại từ đó xuống phía dưới bài viết và chữa lại cho đúng chính tả. (Lưu ý không nên cho các em chỉ ghi một tiếng viết sai rồi sửa lại, sửa như vậy các em sẽ không ghi nhớ các từ đã viết sai và không nên cho các em ghi từ viết sai ra lề vở vì để tránh trường hợp các em viết sai nhiều ghi chằng chịt khó kiểm tra và làm cho bài viết bẩn.) Tiếp theo là việc kiểm tra, ở bước Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 17
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== này tôi phân ra cứ hai em (một khá, giỏi - một yếu hoặc hai em trung bình) làm một cặp tự kiểm tra. Khi kiểm tra, hai em phải cùng kiểm tra một bài và khi đã bắt lỗi hết lỗi còn sót , tính lỗi, ghi số lỗi xong các em mới được kiểm tra bài thứ hai. Giáo viên chú ý đừng để các em khá - giỏi hoạt động nhiều, các em chủ yếu làm vai trò giúp đỡ các bạn phát hiện thêm lỗi sai và biết cách chữa. Khi các em kiểm tra bài bạn xong, giáo viên kiểm tra lại bằng cách gọi một số học sinh hỏi: VD: Em đã chữa được bao nhiêu lỗi ở bài của bạn? Bạn viết sai chữ nào? Vì sao em cho là sai? Em chữa lại thế nào?... Theo tôi chữa bài cho bạn đúng sẽ giúp các em tự tin khi xác định lỗi và sự động viên khuyến khích của giáo viên, sự chú ý theo dõi của các bạn sẽ là niềm khích lệ, cổ vũ giúp các em mạnh dạn hơn trong học tập. Chính vì thế tôi luôn quan tâm đến hoạt động chung của lớp và luôn khuyến khích kịp thời mỗi khi các em sửa lỗi đúng. Khi lớp đã hoàn thành việc kiểm tra tôi thu một số bài chấm và nhắc lại một số lỗi sai phổ biến trong bài viết của lớp. (Trong quá trình chấm - chữa bài cho học sinh giáo viên cần lưu ý đến những trường hợp cần chấp nhận cả hai hình thức chính tả mà nội dung SGK chưa đề cập tới như: giông (dông) tố; sum sê(xum xuê, sum suê); rau dền(giền); để hướng thêm cho các em.) Bước “câu hỏi gợi ý tìm hiểu nội dung đoạn viết” là bước hiệu quả chính tả thấp. Vì nội dung hầu hết các em đã nắm được thông qua các bài tập đọc. Bước này không kéo dài sẽ lãng phí thời gian, tăng cường cho luyện tập (với những bài chính tả mà nội dung bài không có trong danh sách tập đọc thì giáo viên có thể hỏi qua về nội dung đoạn viết). Để tiết dạy chính tả đạt kết quả cao, gây hứng thú trong học tập cho học sinh, tôi thường tổ chức hoạt động học dưới hình thức trò chơi như tìm nhanh các từ ghép (từ láy) có thanh hỏi (ngã). VD: mãnh liệt, lão hóa, vất vưởng ,thủ thỉ Tìm những bài hát, bài thơ có phụ âm s/x, d/gi. (Lý cây xanh, Đếm sao, Mủa xuân, Bầu trời xanh, dung dăng dung dẻ, ) Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 18
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== 3.3.8. Một số biện pháp khác: + GV cần tìm hiểu kĩ thực trạng dạy và học môn chính tả ở khối 5 của trường. + Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp và GV đang trực tiếp giảng dạy khối 5 về các biện pháp nhằm giúp HS học tốt phân môn chính tả. + Tích cực dự giờ các tiết chính tả,trao đổi và học tập kinh nghiệm lẫn nhau. + Tham mưu với bộ phân chuyên môn của nhà trường tổ chức thường xuyên chuyên đề chính tả. 3. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: Trong quá trình đứng lớp, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy học sinh có tiến bộ rõ rệt. Qua việc tìm hiểu nguyên nhân và xác định được những trọng điểm chính tả cho học sinh ở Khối lớp 5 trường Tiểu học Bế Văn Đàn, tôi đã đưa ra một số biện pháp cùng với ban giám hiệu và tập thể giáo viên nhà trường áp dụng và thực nghiệm giảng dạy trên khối lớp 5 của trường. Qua từng học kỳ, được sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn, cùng với sự nỗ lực của tập thể giáo viên khối 5 chúng tôi đã nhận thấy được bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài nên bài viết ít mắc lỗi chính tả. Những em trước kia thường sai 9, 10 lỗi thì nay chỉ còn 3, 4 lỗi, những em trước kia sai 5, 6 lỗi thì nay chỉ còn 1, 2 lỗi Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc nâng cao chất lượng dạy học phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 là một quá trình lâu dài song tôi vẫn cảm thấy rất vui vì công việc mình làm đã bước đầu có hiệu quả. Kết quả kiểm tra cuối HKI cụ thể như sau: Các lỗi chính tả thường mắc Tổng STT Lớp Thanh số d/gi/r/;g/gh;/c/k/q... Cấu trúc âm tiết điệu 1 5A 32 3em 2em 1em 2 5B 31 3em 2em 1em 3 5C 32 3em 3em 1em III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 19
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 ======&===== 1. Kết luận: - Việc tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 là hết sức quan trọng và cần thiết. Chúng ta đang thực hiện Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học để tạo nên một mặt bằng dân trí. Tuy nhiên, trình độ dân trí có đồng đều hay không tuỳ thuộc vào chất lượng giảng dạy và học tập của mỗi địa phương. Là một giáo viên dạy học trên vùng có 100% HS DTTS tôi thấy cần phải trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và cần thiết mang tính chuẩn mực để các em có đầy đủ năng lực học tiếp lên các lớp trên và giao tiếp với xã hội một cách tự tin, chững chạc. - Là một giáo viên vùng phương ngữ, tôi nhận thấy phải trang bị cho các em những kiến thức chuẩn mực để các em có đầy đủ năng lực để học tiếp lên các lớp trên và giao tiếp với xã hội một cách tự tin, chững chạc. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên giảng dạy ở các vùng phương ngữ. Nhiệm vụ này không chỉ tiến hành trong một thời gian ngắn mà cho ta kết quả tốt ngay được mà phải tiến hành trong một thời gian dài / Dẫn luận ngôn ngữ (Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật) - Qua đi sâu nghiên cứu chuyên đề: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn chính tả cho học sinh lớp 5" tôi đã tìm hiểu được các cơ sở lý luận, xác định được chất lượng chính tả của học sinh lớp 5 trường tiểu học Bế Văn Đàn, từ đó đề ra những biện pháp cần thiết. Đây là nhiệm vụ của mỗi người giáo viên nói chung và của giáo viên trường Tiểu học Bế Văn Đàn nói riêng. Nhiệm vụ này không chỉ tiến hành trong một thời gian ngắn mà cho ta kết quả tốt ngay được, nó phải được tiến hành trong một thời gian dài với sự đồng bộ của các khối lớp. Tuy nhiên nhiệm vụ này có hoàn thành triệt để hay không chúng tôi cũng cần có sự giúp đỡ của các cấp, các ngành có liên quan. 2. Một số hướng tiếp tục nghiên cứu sau sáng kiến. Kết quả của một sáng kiến luôn là hướng nghiên cứu cho các sáng kiến khác, theo tôi có thể có một số hướng sau đây: Người thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Oanh 20

